|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày: 31.7.2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Minh Hiền
- Ông Nguyễn Bảo Lâm
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Cao Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
1. VŨ NGỌC T3 (tên gọi khác T3 B) - sinh năm 1966 tại Thành phồ H1;
nơi đăng ký thường trú: G L, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: G L, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; con ông Vũ Văn T, đã chết; con bà Ngô Thị T1, đã chết; vợ: Trần Thị Tuyết T2, sinh năm 1975 (không đăng ký kết hôn); con: Có 01 người sinh năm 1997;
Nhân thân:
- Ngày 27/3/1992, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và “Trốn khỏi nơi giam”, theo Bản án số 135/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/01/1993, qua xác minh không có thông tin về việc thi hành án dân sự của bản án này;
- Ngày 13/4/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 42 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 651/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/12/2001, qua xác minh không có thông tin về việc thi hành án dân sự của bản án này;
- Ngày 12/3/2003, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 313/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/02/2007, qua xác minh không có thông tin về việc thi hành án dân sự của bản án này;
- Ngày 20/11/2008, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 285/2008/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/6/2012, đã hoàn thành xong nghĩa vụ nộp án phí ngày 14/9/2009.
Tiền án:
- Ngày 18/12/2013, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 141/2013/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/02/2018;
- Ngày 22/01/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 38/2019/HSPT, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/3/2023.
Tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. TRẦN THỊ TUYẾT T2- sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
nơi đăng ký thường trú: 1 L, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: G L, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn B1, đã chết và bà Nguyễn Thị N, đã chết; chồng: Vũ Ngọc T3, sinh năm 1966 (không đăng ký kết hôn); con: 01 người con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. NGÔ MINH T4 - sinh năm 1993 tại Thái Bình;
nơi đăng ký thường trú: 216/5 Nguyễn Thị Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 86/29/5 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Ngô Huy G, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1965; vợ: Lâm Liên H, sinh năm 1986; con: 01 người con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Lê Văn Thiên P, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 127/103/12 Ni Sư H, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 5 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, Lê Văn Thiên P đang ngủ trong nhà tại số A Ni Sư H, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì được bà Hồ Thị G1 (mẹ ruột P) kêu dậy nói xe của P để dưới nhà bị trộm cắp. P xuống kiểm tra, thì thấy chiếc xe Honda AirBlade biển số 59P3-413.04 của P để trong nhà bị mất nên đến Công an phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.
Qua truy xét, Công an phường A, quận T phối hợp Đội Cảnh sát hình sự - Công an quận T, phát hiện Nguyễn Thanh S đang điều khiển xe mang biển số 59M1-211.54 trên đường T, phường I, quận T có đặc điểm giống với xe mà đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa chỉ 1 Ni Sư H, phường A, quận T nên tiến hành kiểm tra và đưa về trụ sở Công an để làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T, Nguyễn Thanh S khai nhận: Vào sáng ngày 19/12/2023, S mượn chiếc xe gắn máy biển số 59M1-211.54 của Vũ Ngọc T3 để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Thị Tuyết T2 (vợ của T3) gọi điện nhờ S qua nhà chở đồ nghề của T3 về cất dùm, nên S điều khiển xe 59M1-211.54 qua nhà của T3 và được T2 giao cho S một thùng giấy carton (chứa gì bên trong thì S không biết) cùng một chiếc điện thoại di động, S cất chiếc điện thoại di động vào túi quần, còn chiếc thùng giấy carton đặt trên yên xe phía sau, rồi điều khiển xe về nhà. Khi đang lưu thông trên đường T, phường I, quận T thì bị Công an kiểm tra bắt giữ như trên.
Mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã bắt giữ được Vũ Ngọc T3, Trần Thị Tuyết T2 và Ngô Minh T4;
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 04 giờ 00 ngày 19/12/2023, Vũ Ngọc T3 điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 59M1-211.54 chở Trần Thị Tuyết T2 đi chơi về. Khi đến trước nhà số A N H, phường A, quận T, T3 thấy nhà khóa ổ khóa bên ngoài, T3 chạy xe cách nhà trên khoảng 10m dừng lại, nói T2 đứng ngoài cảnh giới còn T3 đi bộ lại xem, thấy bên trong có chiếc xe Air Blade biển số 59P3-413.04. T3 quay lại, mở cốp xe lấy một tua vít dài khoảng 25cm có cán màu xanh đen đến bẻ ổ khóa, mở cửa vào lấy trộm chiếc xe Air Blade biển số 59P3-413.04, đẩy ra đến chỗ T2 và nói T2 điều khiển xe Air Blade mới vừa trộm được, còn T3 sử dụng xe mô tô hiệu Nouvo biển số 59M1-211.54, đẩy xe trên về nhà tại số G L, phường I, quận T. Sau đó, T3 gọi điện thoại cho Ngô Minh T4 để bán xe Air Blade biển số 59P3-413.04, cả hai hẹn gặp nhau ở cổng chào Giáo xứ P1, chung cư C L, Phường E, Quận A để giao dịch. Khoảng 05 giờ 00 ngày 19/12/2023, T3 điều khiển xe biển số 59M1-211.54 đẩy xe Air Blade vừa trộm được (do T2 ngồi trên xe) đến chỗ hẹn với T4. Tại đây, T4 xem xe, biết xe do trộm mà có và đồng ý mua xe trên với giá 10.000.000 đồng, không hỏi giấy tờ xe, không làm giấy mua bán. T4 trả số tiền 1.000.000 đồng tiền mặt cho T3 và chuyển tiền vào tài khoản số 0972457172 mang tên Vũ Ngọc T3 mở tại ngân hàng T5 số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, T4 bán lại cho Lê Thanh C1 (không rõ lai lịch) qua nick zalo “Vinh L” với giá 11.000.000 đồng.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Vũ Ngọc T3, Trần Thị Tuyết T2, Ngô Minh T4, Nguyễn Thanh S, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan.
Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, Kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59P3-413.04 của anh Lê Văn Thiên P trị giá từ 32.333.333 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone XS Max 64GB màu trắng, kèm sim số 0972457172 (đã lại cho Nguyễn Thanh S).
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen (đã lại cho Vũ Ngọc T3).
- - 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX màu vàng đen, biển số 59M1-211.54 (qua xác minh do Vũ Ngọc T3 là chủ sở hữu sử dụng làm phương tiện phạm tội).
- - 01 (Một) thùng giấy bằng carton, bên trong có: 01 (Một) cờ lê màu đen dài khoảng 20cm; 01 (Một) lưỡi cắt bằng đá màu xanh hình tròn; 01 (Một) lưỡi cắt bằng đá một mặt màu xanh hình tròn, mặt còn lại màu vàng có chữ Vie-star; 01 (Một) tua vít 02 đầu có tay cầm màu đen bằng nhựa dài khoảng 15cm; 01 (Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác màu trắng; 01 (Một) ống tuýt mở bugi xe máy bằng kim loại màu trắng; 01 (Một) ổ khóa màu trắng, trên ổ khóa có chữ ABUS; 01 (Một) thanh kim loại màu vàng hình chữ nhật dài 4cm có từ tính có dán băng keo màu đen ở giữa; 01 (Một) cây dũa hình bán nguyệt bằng kim loại dài 20cm; 01(Một) cây dũa hình tam giác bằng kim loại dài 15cm; 01 (Một) cây kim đá dẹp titan kim loại; 01 (Một) cây vặn lục giác bằng kim loại; 03 (Ba) đầu đoản tự chế hình lục giác bằng kim loại; 02 (Hai) cây dũa móng tay bằng kim loại; 01 (Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác có quấn băng keo đen; 01 (Một) thanh kim loại lục giác vặn ốc vít; 01 (Một) thanh kim loại màu trắng được mài dẹp hai đầu hình chữ S (thu giữ của Vũ Ngọc T3).
- - 01 (Một) điện thoại di động Nokia 6300 màu vàng (T3 dùng trong việc phạm tội);
- - Tiền Việt Nam 2.500.000 (Hai triệu năm trăm ngàn) đồng, T3 khai do bán xe cho T4 còn lại sau khi tiêu xài;
- - 01 (Một) bộ T6 mặc khi phạm tội;
- - 01 (Một) bộ T7 mặc khi phạm tội;
- - 01 (Một) điện thoại di động Samsung Galaxy S20 màu xám (T4 dùng trong việc phạm tội);
- - 02 (Hai) USB có chứa tập tin vụ trộm cắp tài sản (kèm theo hồ sơ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Văn Thiên P có yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe máy không thu hồi được, đại diện gia đình bị cáo T4 đã bồi thường cho anh P số tiền 40.000.000 đồng, anh P đã nhận và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKS.TB ngày 19 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo: Vũ Ngọc T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Thị Tuyết T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Ngô Minh T4 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T3 từ 05 năm đến 06 năm tù; xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết T2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Ngô Minh T4 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc và thu nhập nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Văn Thiên P đã nhận bồi thường số tiền 40.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên không cần xem xét giải quyết.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo.
Bị cáo Ngô Minh T4 trình bày: Bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hai và không yêu cầu các bị cáo Vũ Ngọc T3 và Trần Thị Tuyết T2 có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo số tiền bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Vũ Ngọc T3, Trần Thị Tuyết T2 và Ngô Minh T4, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Vì cần tiền tiêu xài nên ngày 19/12/2023, các bị cáo Vũ Ngọc T3 và Trần Thị Tuyết T2 đã lén lút đến nhà số A Ni Sư H, phường A, quận T chiếm đoạt 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Air Blade, biển số 59P3-413.04 của anh Lê Văn Thiên P, trị giá 32.333.333 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo T3 có 02 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xác định là “tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Trần Thị Tuyết T2 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sau khi lấy trộm xe, T3 và T2 bán lại cho Ngô Minh T4 với giá 10.000.000 đồng, T4 biết chiếc xe trên do T3 trộm cắp mà có nhưng vẫn mua và bán lại cho Lê Thanh C1 (không rõ lai lịch) với giá 11.000.000 đồng, hưởng lợi 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Ngô Minh T4 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo T3, T2 và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của bị cáo T4 là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng lao động và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của công dân và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, muốn nhanh có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, bị cáo Vũ Ngọc T3 là người rủ rê việc trộm cắp tài sản và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bán tài sản trộm cắp, Trần Thị Tuyết T2 là người cảnh giới, có vai trò thứ yếu. Như vậy, bị cáo T3 có vai trò chủ mưu trong việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Mặc dù các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể và phương thức xử lý tài sản trộm cắp được, hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện mang tính chất đồng phạm giản đơn nên các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức” qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét nhân thân, vai trò và mức độ tham gia của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, vai trò của từng bị cáo. Bị cáo T3 có 02 tiền án, đồng thời có nhân thân rất xấu, liên tục phạm tội từ năm 1992 cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với Lê Thành C2 mua xe của Ngô Minh T4 qua xác minh hiện nay không có ở nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với Vũ Ngọc T3: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Đối với Trần Thị Tuyết T2: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Đối với Ngô Minh T4: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã chủ động nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0002137 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Các bị cáo không có tình tiết năng nặng.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Văn Thiên P đã nhận bồi thường số tiền 40.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên không cần xem xét giải quyết.
Bị cáo Ngô Minh T4 không yêu cầu các bị cáo Vũ Ngọc T3 và Trần Thị Tuyết T2 có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo số tiền bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về số tiền bị cáo T4 hưởng lợi 1.000.000 đồng từ việc bán chiếc xe máy của bị hại, bị cáo đã nộp lại số tiền này theo Biên lai thu số 0002137 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, bị cáo đã nộp xong.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX màu vàng đen, biển số 59M1-211.54, qua xác minh do Vũ Ngọc T3 là chủ sở hữu sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (Một) thùng giấy bằng carton, bên trong có: 01 (Một) cờ lê màu đen dài khoảng 20cm; 01 (Một) lưỡi cắt bằng đá màu xanh hình tròn; 01 (Một) lưỡi cắt bằng đá một mặt màu xanh hình tròn, mặt còn lại màu vàng có chữ Vie-star; 01 (Một) tua vít 02 đầu có tay cầm màu đen bằng nhựa dài khoảng 15cm; 01 (Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác màu trắng; 01 (Một) ống tuýt mở bugi xe máy bằng kim loại màu trắng; 01 (Một) ổ khóa màu trắng, trên ổ khóa có chữ ABUS; 01 (Một) thanh kim loại màu vàng hình chữ nhật dài 4cm có từ tính có dán băng keo màu đen ở giữa; 01 (Một) cây dũa hình bán nguyệt bằng kim loại dài 20cm; 01(Một) cây dũa hình tam giác bằng kim loại dài 15cm; 01 (Một) cây kim đá dẹp titan kim loại; 01 (Một) cây vặn lục giác bằng kim loại; 03 (Ba) đầu đoản tự chế hình lục giác bằng kim loại; 02 (Hai) cây dũa móng tay bằng kim loại; 01 (Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác có quấn băng keo đen; 01 (Một) thanh kim loại lục giác vặn ốc vít; 01 (Một) thanh kim loại màu trắng được mài dẹp hai đầu hình chữ S (thu giữ của Vũ Ngọc T3), không có giá trị nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (Một) điện thoại di động Nokia 6300 màu vàng của bị cáo T3, sử dụng trong việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền Việt Nam 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng, là số tiền còn lại khi bán xe cho T4, đây là tài sản do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (một) bộ trang phục bị cáo T3 mặc khi phạm tội và không có yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) bộ trang phục bị cáo T2 mặc khi phạm tội và không có yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động S1 S20 màu xám, bị cáo T4 dùng trong việc phạm tội Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - 02 (Hai) USB có chứa tập tin vụ trộm cắp tài sản (kèm theo hồ sơ) tiếp tục lưu giữ kèm hồ sơ vụ án.
[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Vũ Ngọc T3;
Căn cứ Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thị Tuyết T2;
Căn cứ Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Minh T4;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc T3 và Trần Thị Tuyết T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo:
1.1 Vũ Ngọc T3 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
1.2 Trần Thị Tuyết T2 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
[2] Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Ngô Minh T4: 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo
[4] Về vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX màu vàng đen, biển số 59M1-211.54 của bị cáo Vũ Ngọc T3.
- - 01 điện thoại di động Nokia 6300 màu vàng số ime i353932010797840;
- - Tiền Việt Nam 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng;
- - 01 (Một) điện thoại di động S1 S20 màu xám, số imei 354203111547032/01;
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01(Một) thùng giấy bằng carton, bên trong có: 01(Một) cờ lê màu đen dài khoảng 20cm; 01(Một) lưỡi cắt bằng đá màu xanh hình tròn; 01(Một) lưỡi cắt bằng đá một mặt màu xanh hình tròn, mặt còn lại màu vàng có chữ Vie-star; 01(Một) tua vít 02 đầu có tay cầm màu đen bằng nhựa dài khoảng 15cm; 01(Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác màu trắng; 01(Một) ống tuýt mở bugi xe máy bằng kim loại màu trắng; 01(Một) ổ khóa màu trắng, trên ổ khóa có chữ ABUS; 01(Một) thanh kim loại màu vàng hình chữ nhật dài 4cm có từ tính có dán băng keo màu đen ở giữa; 01(Một) cây dũa hình bán nguyệt bằng kim loại dài 20cm; 01(Một) cây dũa hình tam giác bằng kim loại dài 15cm; 01(Một) cây kim đá dẹp titan kim loại; 01(Một) cây vặn lục giác bằng kim loại; 03(Ba) đầu đoản tự chế hình lục giác bằng kim loại; 02(Hai) cây dũa móng tay bằng kim loại; 01(Một) cờ lê vặn ốc vít đầu lục giác có quấn băng keo đen; 01(Một) thanh kim loại lục giác vặn ốc vít; 01(Một) thanh kim loại màu trắng được mài dẹp hai đầu hình chữ S (thu giữ của Vũ Ngọc T3).
- - 01 (Một) bộ T6 mặc khi phạm tội;
- - 01 (Một) bộ T7 mặc khi phạm tội;
(Tình trạng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 151/BB/2024 ngày 30/7/2024 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[5] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Ngọc T3, Trần Thị Tuyết T2 và Ngô Minh T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
[6] Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Út |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1] Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc T3 và Trần Thị Tuyết T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo: 1.1 Vũ Ngọc T3 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. 1.2 Trần Thị Tuyết T2 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. [2] Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Ngô Minh T4: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
