|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Minh
- Ông Phạm Văn Liệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023; về việc “Tranh chấp hôn nhân và Gia đình ly hôn, nuôi con".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:100A/QĐXXST- DSST ngày 20 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 95A/2024/QĐST ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Thanh P, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh P có đơn xin vắng mặt, chị N vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản khai, biên bản hoà giải tại phiên toà nguyên đơn anh Huỳnh Thanh P trình bày:
Về hôn nhân: Anh P, chị N tự tìm hiểu nhau và xác lập quan hệ vợ chồng vào
năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được cấp vào sổ:51/2012/GCNKH ngày 20/6/2012. Trong thời gian chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng ý kiến, mâu thuẩn về tình cảm vợ chồng và ly thân vào 2/2021. Từ khi ly thân cho đến nay có gặp nhau nhưng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay anh P yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị N vì không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ chung sống với nhau.
- Về con chung: Anh P, chị N chung sống với nhau có 02 con chung, họ và tên: Nguyễn Phước A, sinh ngày 24/5/2006 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết; cháu Huỳnh Nguyễn Duy M, sinh ngày 28/01/2009 đang chung sống với chị N.
Nay anh P thống nhất giao cong chung Huỳnh Nguyễn Duy M cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: vợ chồng không có nợ ai, cũng không ai nợ lại nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị N, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của anh P và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị N cư trú tại ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024. Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100A/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 95A/QĐST – DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, vụ án được xét xử vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 31 tháng 7 năm 2024, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N là phù hợp.
[2]. Về nội dung: Giữa anh P, chị N chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn ngày 20/06/2012. Việc kết hôn giữa anh P, chị N là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Anh P, chị N chung sống hạnh phúc và đến
2
tháng 2/2021 ly thân với nhau. Từ khi ly thân đến nay không hàn gắn tình cảm sống chung lại với nhau được.
Xét thấy quan hệ hôn nhân phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai người, phải có tình cảm yêu thương, quan tâm đến nhau thì mới hạnh phúc. Anh P yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với chị N, vì tình cảm không còn không có khả năng đoàn tụ chung sống với nhau. Vì vậy cho thấy mâu thuẩn giữa anh P, chị N làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định“ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thề kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Cho nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huỳnh Thanh P đối với chị Nguyễn Thị N là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: anh P, chị N chung sống với nhau có 02 con chung, họ và tên: Nguyễn Phước A, sinh ngày 24/5/2006, Huỳnh Nguyễn Duy M, sinh ngày 28/01/2009 đang chung sống với chị N. Anh P thống nhất giao cháu M cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần cho cháu, xét điều kiện kinh tế, khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của các bên đương sự. Vì vậy giao cháu M cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do chị N không có ý kiến trình bày nên không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 24/5/2006 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Anh P có quyền thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo con là phù hợp với các Điều 81,82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P anh và N không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng không có ý kiến của chị N, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Chị N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh P, chị N có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
3
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huỳnh Thanh P với chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Nguyễn Duy M, sinh ngày 28/01/2009 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do chị N không có ý kiến trình bày nên không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 24/5/2006 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Anh P có quyền thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo con là phù hợp với các Điều 81,82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh P phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0004315 ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Anh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
4
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trinh |
5
6
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và Gia đình ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Anh Huỳnh Thanh P , sinh năm 1988 Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
