Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/DSST

Ngày: 30/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
  • Ông Nguyễn Duy Thảo
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 05 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 08 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2024/QĐST-DS, ngày 13/09/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng Giám đốc.
  • Đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Đình V, chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ; Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy ủy quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng Giám đốc S1 và Giấy ủy quyền số 165/2024/GUQ-CNSH ngày 15/04/2024 v/v ký hợp đồng/văn bản và thẩm quyền tham gia tố tụng). (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lê Hoàng D1, sinh năm: 1994; Nơi thường trú: Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/10/2022, ông Lê Hoàng D1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông D1 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 60.000.000đ với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông D1 đã thực hiện 05 giao dịch với tổng số tiền 249,336,000đ. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 201,006,115đ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 06/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân Hàng TMCP S kính đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Hoàng D1 trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 94.270.175đ trong đó nợ gốc: 66.880.505₫ và lãi quá hạn: 27.389.670đ. Ông Lê Hoàng D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn ông Lê Hoàng D1 mặc dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lê Hoàng D1 trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 94.270.175đ trong đó nợ gốc: 66.880.505đ và lãi quá hạn: 27.389.670đ. Ông Lê Hoàng D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Ông Lê Hoàng D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp pháp luật trong tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Hoàng D1 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông D1.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 06/10/2022, ông Lê Hoàng D1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 60.000.000₫ với mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông D1. Sau khi được cấp tín dụng ông D1 đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 249.336.000đ. Lãi suất áp dụng 2,4%/ tháng từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,48%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 201,006,115₫. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 26/08/2024, Ông Lê Hoàng D1 còn nợ ngân hàng các khoản sau: Dư nợ: 66.880.505đ; lãi quá hạn: 24.484.705đ; tổng cộng: 91.365.210đ (Chín mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm mười đồng). Ngân hàng đã yêu cầu ông D1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông D1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

[3] Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Lê Hoàng D1 phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nêu trên và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 30/9/2024 cho đến khi tất toán khoản vay.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Theo Giấynghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điềuvà Điềuphát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là hợp đồng giữa: Ngân hàng TMCP S và ông Lê Hoàng D1 là hợp đồng vay tín chấp không có đảm bảo bằng tài sản, phù hợp với nội dung, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức sử dụng thẻ tín dụng cho ông D1 số tiền 60.000.000đ, ông D1 đã nhận thẻ tín dụng. Quá trình sử dụng thẻ ông D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ hàng tháng theo các kỳ sao kê. Như vậy, ông D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấynghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điềuvà Điềuphát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu được gọi chung là hợp đồng) mà các bên đã ký kết nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Lê Hoàng D1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 94.270.175đ trong đó nợ gốc: 66.880.505₫ và lãi quá hạn: 27.389.670đ. Ông Lê Hoàng D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên cho đến khi tất toán khoản vay là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về án phí DSST: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa, ông Lê Hoàng D1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả 94.270.175₫ x 5% = 4.713.509 (Bốn triệu bảy trăm mười ba nghìn đồng năm trăm lẻ chín đồng, đã làm tròn).

[5] Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với ông Lê Hoàng D1.
  2. Xử: Buộc ông Lê Hoàng D1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 94.270.175đ trong đó nợ gốc: 66.880.505đ và lãi quá hạn: 27.389.670đ (tạm tính đến ngày 30/9/2024).

    Kể từ ngày 01/10/2024 ông Lê Hoàng D1 còn phải tiếp tục trả các khoản nợ lãi phát sinh trên số tiền dư nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 06/10/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Lê Hoàng D1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: 4.713.509₫ (Bốn triệu bảy trăm mười ba nghìn đồng năm trăm lẻ chín đồng, đã làm tròn) ông Lê Hoàng D1 phải chịu.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 2.053.808đ (Hai triệu không trăm năm mươi ba nghìn tám trăm linh tám đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0001164 ngày 27 tháng 05 năm 2024.

  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - CCTHADS quận Thanh Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Huyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 125/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger