Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

– Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
  2. Ông Võ Tiến Dũng

– Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án – Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2024/QÐST – HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm: 1993
    Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt
  2. Bị đơn: Ông Vũ Anh T, sinh năm: 1994
    Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án – Nguyên đơn, bà Lê Thị Cẩm L trình bày:

Bà và ông Vũ Anh T có tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/2020 tại UBND thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam trên cơ sở tự nguyện. Bà L và ông T chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là chồng không lo làm ăn, không chu cấp tiền nuôi dưỡng con, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và ông T bạo lực gia đình với bà L. Hiện nay ông bà đã sống ly thân. Nay, xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T có 01 con chung là cháu Vũ Trọng T1 sinh ngày 02/8/2020. Hiện cháu đang sống với bà L nên bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn ông Vũ Anh T: Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị Cẩm L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm L được ly hôn với ông Vũ Anh T. Về con chung: Giao cháu Vũ Trọng T1 sinh ngày 02/8/2020 cho mẹ là bà Lê Thị Cẩm L chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Ông Vũ Anh T được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L yêu cầu ly hôn và con chung với ông Vũ Anh T, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn ông Vũ Anh T đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/2020 tại UBND thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hiện nay bà L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được do khi hòa giải ông T không lên làm việc”.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Vũ Anh T không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc ông T không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị Cẩm L, cho bà L được ly hôn với ông Vũ Anh T.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T có 01 con chung là cháu Vũ Trọng T1 sinh ngày 02/8/2020. Hiện cháu đang còn nhỏ sống với mẹ nên bà L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà Lê Thị Cẩm L về việc được nuôi cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Vũ Trọng T1 sinh ngày 02/8/2020 cho mẹ là bà Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Vũ Anh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm L được ly hôn với ông Vũ Anh T.
  2. 2. Về con chung:

    Giao cháu Vũ Trọng T1 sinh ngày 02/8/2020 cho mẹ là bà Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

    Ông Vũ Anh T được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

  3. 3. Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. 4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Vũ Anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. 5. Về án phí: Bà Lê Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Thân Thị M nộp thay Lê Thị Cẩm L theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0009626 ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND Tp. BMT;
  • – Chi Cục THADS Tp. BMT;
  • – Đương sự;
  • – UBND thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (GCNKH số:87/ 2022 ngày 31/8/2020)
  • – Lưu hồ sơ tại tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà L xin ly hôn với ông T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger