1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số:125/2024/HS- ST Ngày: 28/11/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà NguyễnThị Hoa
- Bà Nguyễn Thị Vĩnh .
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu H - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024 QĐXXST- HS ngày 14/11/2024 đối với bị cáo:
Lê Hồng P; Sinh ngày 01/9/1969. Tại: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10 /10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn Q và bà: Phạm Thị Q1; Có vợ: Vũ Thị H1 và có 03 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 22 ngày 18/10/1989 Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt P 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”, án phí hình sự sơ thẩm 15.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 15.000 đồng, buộc bồi thường số tiền 77.000 đồng cho ông Bùi Trọng Đ ở xã Đ, huyện Đ. P đã chấp hành xong, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 đến nay
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
+ Bị hại: Bà Lê Thị Tân S năm 1960 trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ
+ Người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Ông Vũ Văn T sinh năm 1950 trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
2
(bà T1 và ông T đều có mặt tại phiên tòa )
+ Người làm chứng: Bà Vũ Thị H1 sinh năm 1971 và anh Trần Xuân Đ1 sinh năm 1972 cùng trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ và ông Phan Văn M sinh năm 1966 trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
( Bà H1 có mặt tại phiên tòa; Ông Đ1, ông M vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ sáng ngày 21/5/2024, bà Lê Thị Tân S năm 1960 và chồng là ông Vũ Văn T sinh năm 1950 cùng trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ đến nhà mẹ đẻ của bà T1 là nhà cụ Phạm Thị Q1 sinh năm 1931 ở cùng thôn để thắp hương ngày rằm. Lúc này trong nhà chỉ có bà Vũ Thị H1 sinh năm 1971 (là em dâu bà T1) đang nằm trong nhà. Do trước đó bà T1 và bà H1 có mâu thuẫn xích mích giữa chị chồng em dâu nên khi vào nhà ông T bà T1 không nói chuyện gì với bà H1 mà đi vào gian nhà phía trong để thắp hương. Bà H1 ngồi trong nhà nghe bà T1 đọc văn khấn thì cho rằng bà T1 cúng bái gia tiên nói xấu mình nên bà H1 đã gọi điện thoại cho chồng là ông Lê Hồng P (em trai bà T1) và bảo “Ông về nhà ngay giải quyết việc gia đình, chị T1 cúng bái nói tôi dẫn trai về nhà” sau đó, bà H1 đi xe đạp ra nhà Công an viên của xã để nhờ giải quyết. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, P đi xe máy về đến nơi thì thấy ông T ngồi ngoài cửa, còn bà T1 ngồi trong nhà, P vừa vào nhà vừa nói “Sao bà cứ vu oan giá họa cho nhà tôi thế”, giữa hai bên lời qua tiếng lại sau đó P đã dùng tay phải cầm thanh gậy gỗ dài 112 cm, rộng 11 cm, dày 01 cm ở ngoài hiên nhà đánh một nhát hướng từ trên xuống trúng vào vùng trán bà T1 làm bà T1 bị thương chảy máu, P tiếp tục đánh nhát thứ hai về phía bà T1 thì bà T1 giơ ghế nhựa đỏ lên đỡ nên vụt trúng vào bàn tay phải, lúc này ông T vào can ngăn nên đã bị thanh gậy của P đập vào vùng trán và sườn phải làm ông T bị thương, chảy máu. Ông Trần Xuân Đ1 sinh năm 1972 là hàng xóm nghe thấy cãi nhau, chạy sang can ngăn nên P dừng lại. Sau đó, ông T và bà T1 được người dân chở đi trạm y tế xã Đ để sơ cứu và chuyển tuyến lên Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị thương tích từ ngày 21/5/2024 đến ngày 28/5/2024 thì xuất viện.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 293/KLTTCT-TTPY ngày 18/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Vùng trán có vết sẹo ½ ngoài chân tóc nhỏ, mặt sau ngoài ngón I bàn tay trái có 2 vết sẹo, gãy xương bàn ngón V bàn tay phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với bà Lê Thị T1 tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm)
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 294/KLTTCT-TTPY ngày 18/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Vùng trán lệch phải trong chân tóc có vết sẹo tóc nhỏ, kẽ ngón 1,2 bàn tay phải có vết sẹo trung bình, gãy xương sườn 10 bên phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với ông Vũ Văn T tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm)
3
3. Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 441 và 442 cùng ngày 12/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Cơ chế hình thành thương tích của ông Vũ Văn T và bà Lê Thị T1 đều do vật tày cứng có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Bản cáo trạng số 117/CT-VKSĐH ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo Lê Hồng P họng “Về tội “Cố ý gây thương tích”” quy định tại điểm đ khoản 2 (với tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm; có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự.
Ý kiến trình bày tại phiên tòa: Bị cáo Lê Hồng P thừa nhận bị cáo đã có hành vi dùng một thanh gậy gỗ là gây thương tích cho bà Lê Thị Tân S năm 1960 và ông Vũ Văn T sinh năm 1950 trú cùng thôn (là chị gái và anh rể của bị cáo). Hậu quả: Bà T1 bị thương tích 13%, Ông T bị thương tích 05%. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho ông T và bà T1 toàn bộ chi phí chữa trị và tổn thất sức khỏe, tinh thần tổng số tiền 35.000.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 (tình tiết định khung điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo P từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù giam. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không tranh luận gì.
Bị cáo P nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[I] Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của những người làm chứng, những người trên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
[1] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ nơi xảy ra vụ việc và bản ảnh hiện trường do Công an xã Đ; Biên bản giao nhận đồ vật; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bà Lê Thị
4
T1 và ông Vũ Văn T tại Trạm y tế xã Đ; Bản sao sổ khám bệnh trạm y tế xã Đ; Bệnh án ngoại khoa; bảng kê, hóa đơn chi phí điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: bà Vũ Thị H1 sinh năm 1971 và anh Trần Xuân Đ1 sinh năm 1972 cùng trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ và ông Phan Văn M sinh năm 1966 trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút sáng ngày 21/5/2024, Lê Hồng P đã dùng một thanh gậy gỗ là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà Lê Thị Tân S năm 1960 và ông Vũ Văn T sinh năm 1950 trú cùng thôn. Hậu quả: Bà T1 bị thương để lại sẹo ở vùng trán và mặt sau ngoài ngón I bàn tay phải, gãy xương bàn ngón V bàn tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13% (Mười ba phần trăm). Ông T bị thương để lại sẹo ở vùng trán lệch phải, kẽ ngón 1, 2 bàn tay phải, gãy xương sườn 10 bên phải, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây là 05% . Cùng với việc gây thương tích cho bà T1 và ông T từ một nguyên nhân nhỏ nhặt, thể hiện tính Côn đồ, khi đánh bà T1 ông T, P đã dùng hung khí nguy hiểm nên hành vi của bị cáo Lê Hồng P đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (với tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm; có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
i). Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo Lê Hồng P là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân. Với tỷ lệ tổn thương về sức khỏe của bà T1 là 13%, cùng với tính côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm thì hành vi của P thuộc trường hợp nghiêm trọng.
5
[3]Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]Tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bồi thường thiệt hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo P có nhân thân xấu, đã 01 lần bị TAND huyện Đông Hưng xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học, nay lại phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, mới đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
01 thanh gậy gỗ dài 112 cm, rộng 10 cm, dày 01 cm là công cụ phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bà T1, ông T và bị cáo P đã thỏa thuận bồi thường trước khi xét xử: Bị cáo P bồi thường toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh, bồi dưỡng sức khỏe, tổn thất về tinh thần... cho cả bà T1 và ông T tổng số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong và bà T1, ông T không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết trong vụ án.
[7] Về nội dung liên quan:
Đối với hành vi dùng gậy gỗ là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông Vũ Văn T là người già, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%, ông T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P nên ngày 07/10/2024, Công an huyện Đ đã đề nghị Chủ tịch UBND huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 383/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích đối với P, P đã chấp hành xong.
[8] Về án phí:
Bị cáo Lê Hồng P phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng P - Phạm tội “Cố ý gây thương tích”
[2] Về áp dụng luật và hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 (với tình tiết định khung là điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo P thi hành hình phạt tù.
6
[3] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gậy gỗ dài 112 cm, rộng 10 cm, dày 01 cm (là công cụ phạm tội).
[4] Về trách nhiệm dân sự:
không đặt ra giải quyết
[5] Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.
Bị cáo Lê Hồng P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi liên quan và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Tiến Hưng |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng Ph phạm tội cố ý gây thương tích
