Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số:125/2024/DS-ST

Ngày: 26/07/2024

V/v: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 179/TLST- DS ngày 12/10/2023 về tranh chấp Tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QÐST - DS ngày 05/06/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QÐST-DS ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Tô Thị H, sinh năm 1967
  • Nơi ĐKHKTT: Số A, T, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. ( có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1940
  • Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.( vắng mặt)
  • *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
  • - Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1982; Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1983 (vợ anh Đ).( vắng mặt)
  • Cùng cư trú: Thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa Nguyên đơn – bà Tô Thị H trình bày:

Tôi có nhận chuyển nhượng 90m2 đất ở thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số; 01 tại thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội. Vào năm 2004 theo giấy chuyển nhượng đất ông T lập vào ngày 06/7/2004 với tổng số tiền là; 84.000.000 đồng, tôi đã thanh toán đầy đủ số tiền là 84.000.000 đồng cho ông Lê Văn T theo số tiền đã thỏa thuận trong giấy chuyển nhượng nêu trên.

Đến năm 2007 ông Lê Văn T đã phối hợp cùng UBND xã P để hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi với diện tích ông T đã chuyển nhượng cho tôi nêu trên và tôi được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH647042 vào ngày 03/7/2007. Tuy nhiên từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay gia đình ông Lê Văn T chưa bàn giao trả đủ tôi mốc giới thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp hiện trạng gia đình ông Lê Văn T đã xây dựng hệ thống tường bao vào cả phần ranh giới thửa đất tôi đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tôi làm đơn đề nghị UBND xã P hòa giải tranh chấp đất đai giữa tôi và ông Lê Văn T để gia đình ông Lê Văn T bàn giao trả tôi đúng ranh giới mốc giới diện tích thửa đất gia đình ông Lê Văn T đã chuyển nhượng cho tôi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH647042 do UBND huyện C cấp ngày 05/7/2007 tuy nhiên gia đình ông Lê Văn T không hợp tác hòa giải nên không thành.

Vậy tôi làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xem xét giải quyết để gia đình ông Lê Văn T bàn giao trả đủ diện tích đất còn thiếu khoảng 6,43m2 giá trị tiền khoảng; 13.000.000 đồng /1m2.

Trả đủ cho tôi diện tích là 90m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Lê Văn T lập ngày 06/072004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 647042 do UBND huyện C, cấp ngày 05/7/2007

2. Bị đơn: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Văn T theo đúng quy định nhưng ông T không thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Lê Văn Đ và chị Nguyễn Thị Y đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

4. Ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa:

Ý kiến của nguyên đơn:

Tại phiên tòa, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án chấp hành đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất tại thôn P, xã P, C, Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật:

Căn cứ vào nội dung đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lời khai tại phiên tòa đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp trả lại bà H diện tích đất còn thiếu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 647042 do UBND huyện C, cấp ngày 05/7/2007. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội giữa nhà bà Tô Thị H và ông Lê Văn T. Do đó xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp quyền sử dụng đất.

[1.3]. Về áp dụng luật nội dung: Áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp.

[1.4]. Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2.]. Về nội dung:

[2.1]. Về nguồn gốc và hiện trạng đất tranh chấp:

Kết quả thu thập hồ sơ địa chính lưu tại UBND xã P, huyện C và Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng thực tế sử dụng các thửa đất đang tranh chấp cho thấy:

Về thửa đất của bà Tô Thị H: Nguồn gốc đất là của ông Lê Văn T,sau đó gia đình ông Lê Văn T chuyển nhượng cho bà Tô Thị H năm 2004 là 90m2 đất ở. Ngày 05/07/2007 UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 148b, tờ bản đồ 01, diện tích 90m2 mang tên Bà Tô Thị H.

Tài sản trên đất:

  • Phía giáp nhà ông H1 có tường bao
  • Phía giáp nhà ông T1, ông H2, ông V là nhà cấp 4 đã đổ nát, thửa đất đang để trống không có ai ăn, ở sinh sống.

* Vị trí tiếp giáp:

  • Phía Bắc ngõ xóm
  • Phía Đông giáp nhà ông Lê Văn T và ông Trịnh Văn H3
  • Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Văn V1
  • Phía Tây giáp nhà ông Lê Như H4

Theo hiện trạng thực tế thì ranh giới liền kề giữa hộ bà H với ông T bức tường gạch xây 20 dài khoảng 13,97 m là đường vào đất nhà bà H.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà H:

Bà yêu cầu gia đình ông Lê Văn T trả đủ cho bà H diện tích là 90m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông Lê Văn T lập ngày 06/072004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 647042 do UBND huyện C, cấp ngày 05/7/2007.

Xét thấy, ranh giới 2 thửa đất của bà Tô Thị H nhận chuyển nhượng của gia đình ông Lê Văn T, UBND xã P đã hòa giải nhiều lần.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023 UBND xã P đã kiểm tra hiện trạng thửa đất số 148b, tờ bản đồ số 01 tại thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 647042 do UBND huyện C, cấp ngày 05/7/2007 cấp cho bà Tô Thị H.

Khi đo đạc hiện trạng liên quan đến mốc giới thửa đất nhà ông Lê Văn T thì ông không hợp tác với UBND xã không cung cấp giấy tờ liên quan đến thửa đất để xác định mốc giới giữa nhà ông và bà H. Theo kết qua kiểm tra hiện trạng có diện tích là 83,9m2 giảm 6,1 m2 so với giấy chứng nhận đã cấp.

Qua báo cáo của UBND xã P ngày 28 tháng 8 năm 2023,diện tích đất được công nhận quyền sử dụng đất của bà Tô Thị H là đất ở diện là 90m2. Do hộ gia đình ông Lê Văn T khi xây dựng tường bao mới đã không bớt đủ diện tích.

Ngày 14/11/2023 Tòa án đã tiến hành thẩm định và định giá tài sản, kiểm tra hiện trạng thửa đất số 148b, tờ bản đồ số 01 tại thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 647042 do UBND huyện C, cấp ngày 05/7/2007 cấp cho bà Tô Thị H. Áp theo sổ và số đo cụ thể không đo tường bao gia đình nhà ông Lê Văn T cũng không hợp tác trong quá trình đo đạc. Phía Tây giáp nhà ông H4 có tường bao, phía Đông giáp nhà ông T, ông H3,phía Nam giáp nhà ông V1 là nhà cấp 4 đã đổ nát, thửa đất đang để trống không có ai ăn, ở sinh sống.

Theo biên bản xác minh ngày 01/03/2024 của Tòa án xác minh nguồn gốc đất trên là của gia đình ông Lê Văn T chuyển nhượng cho bà Tô Thị H năm 2004 thửa đất trên là 90m2.Ngày 05/07/2007 UBND huyện C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích là 90 m2 mang tên bà Tô Thị H.

Năm 2023 bà H kiểm tra lại hiện trạng thì không thấy đủ diện tích như được cấp, do gia đình ông T xây tường bao không bớt đủ diện tích theo kích thước đất gia đình ông đã chuyển nhượng cho bà H. UBND xã đã tiến hành kiểm tra đo đạc ngày 19/8/2023 hộ gia đình ông T không hợp tác, qua đo đạc theo số liệu của UBND xã P và Tòa án không đo bức tường xây và áp theo sổ thì diện tích giảm là 6,1m2.

Xem xét lời khai và các tài liệu do các đương sự cung cấp thì thấy: Ông T xây tường bao sau thời điểm bán đất cho nhà bà H mà không bớt ngõ đủ 1,4m2là lối đi vào nhà bà H. Gia đình ông T cũng đã cam kết trả bà H được sử dụng đủ 90 m2 đất không tranh chấp, nếu không đúng phải chịu trách nhiệm.Hiện tại ông T đã chuyển sang tên mảnh đất đang ở cho con trai là anh Lê Văn Đ và chị Nguyễn Thị Y.

Tại phiên tòa xét xử ngày 27/06/2024 bà H yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định lại diện tích gia đình ông T đang ở phần diện tích xây tường bao để trả đủ diện tích cho bà H đủ 90m2 đất theo chuyển nhượng.

Ngày 18/07/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định lại diện tích đo đạc theo hiện trạng thửa đất 90m2, giới hạn bởi các điểm:1,2,3,4,5,6,7,8,1( Để đủ diện tích theo sơ đồ đo đạc thửa đất).

  • Phía giáp nhà ông Lê Như H4 là tường bao( dài 22,06m)
  • Phía giáp nhà ông Lê Văn T, ông Trịnh Văn H3,ông Nguyễn Văn V1 là bức tường và nhà cấp 4 đã đổ nát, không có ai ở.

Giáp gianh nhà bà H và ông T có 01 bức tường gạch xây 20, dài 13, 97 m( đường vào thửa đất của nhà bà H).

*Vị trí các cạnh tiếp giáp như sau:

  • Phía Bắc giáp ngõ xóm
  • Phía Đông giáp nhà ông Lê Văn T và ông Trịnh Văn H3.
  • Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Văn V1
  • Phía Tây giáp nhà ông Lê Như H4.

Trên cơ sở xem xét đánh giá toàn diện chứng cứ, thực tế hiện trạng phần diện tích đất các bên đang sử dụng tại vị trí có tranh chấp, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 175 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và xác định ranh giới của thửa đất như sau: Thửa đất số 148b; tờ bản đồ số:01; Địa chỉ : Thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội.

Tổng diện tích thửa đất 90m2, giới hạn bởi các điểm:1,2,3,4,5,6,7,8,1( Để đủ diện tích theo sơ đồ đo đạc thửa đất).

- Buộc gia đình ông Lê Văn T phải phá bỏ tường bao ngõ vào nhà bà H đủ chiều rộng 1,4m2 ( chiều rộng phía trên khoảng 11cm, phía dưới khoảng 0,08 cm, theo sơ đồ đo đạc giới hạn bở các điểm: 2',2,3',3 )

Về án phí: Bị đơn ông Lê Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 26, 34, 37, điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điều 271, 273, BLTTDS năm 2015; Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH, Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị H về tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình ông Lê văn T2.

    Xác định ranh giới thửa đất số 148b; tờ bản đồ số:01; Địa chỉ : Thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội.

    Tổng diện tích thửa đất 90m2, giới hạn bởi các điểm:1,2,3,4,5,6,7,8,1( Để đủ diện tích theo sơ đồ đo đạc thửa đất).

  2. Buộc gia đình ông Lê Văn T (hộ ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị Y), phải phá bỏ tường bao ngõ vào nhà bà H để trả đủ chiều rộng là 1,4m2 theo GCNQSD đất đã cấp ( chiều rộng phía trên 11cm, phía dưới 8cm, theo sơ đồ đo đạc giới hạn bởi các điểm: 2',2,3',3)
  3. Về quyền đăng ký quyền sử dụng đất.

    Bà Tô Thị H có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được giao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 90m2 có thay đổi về kích thước đo đạc hiện trạng so với giấy chứng nhận UBND huyện C, thành phố Hà Nội đã cấp cho bà Tô Thị H diện tích đất ở là 90m2, thửa đất số 148b; Tờ bản đồ số:01; Địa chỉ : Thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội và nộp các nghĩa vụ với nhà nước theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.

  4. Về án phí: Ông Lê Văn T phải nộp 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm .
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân Tp.Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.Chương Mỹ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Chương Mỹ;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án/ Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 125/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger