Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 75/2024/HNGĐ-TLST ngày 21/02/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐ-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy B, sinh ngày 10/7/1971.

    HKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    Hiện ở: KTX Công ty P, tổ A, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

  2. Bị đơn : Chị Phạm Thị L, sinh ngày 07/10/1979.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện đang làm việc tại: Đài Loan.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1955.

    Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

( Anh B, chị L, ông L1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Duy B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai ngày 06/01/2004. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 10 năm. Năm 2014 chị L sang Đài Loan lao động và đưa hai con ra ngoài Bắc học tập. Khoảng 6 tháng đầu vợ chồng thường xuyên gọi điện nói chuyện, hỏi thăm sức khỏe, nhưng do sống xa nhau lâu ngày dẫn đến hai bên bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn liên lạc, không tìm được tiếng nói con chung, Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

Về quan hệ con chung: Anh và chị L có 02 con chung là Nguyễn Phạm Duy L2, sinh ngày 31/8/2007 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 12/5/2010. Hiện nay hai cháu đang ở với ông bà ngoại. Để ổn định cuộc sống của hai con, ly hôn anh đồng ý để chị L nuôi hai con, trong thời gian chị L không ở Việt Nam anh đồng ý để các con sống cùng ông bà ngoại là ông Phạm Văn L1 và bà Nguyễn Thị X. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị L là 1.500.000đ/tháng/1 con cho đến khi các con trưởng thành. Hàng tháng anh sẽ chuyển số tiền 3.000.000đồng vào tài khoản của cháu L2.

Về tài sản chung: Anh xác định trước đây vợ chồng có mua được 1 mảnh đất có diện tích khoảng 135m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Diện tích đất vợ chồng mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có xây 01 nhà cấp 4, hiện anh đang quản lý và sử dụng. Ly hôn anh và chị L thỏa thuận sẽ để lại cho hai con tài sản trên, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Chị Nguyễn Thị L3 hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do anh B không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị L3 nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị L3 thông qua gia đình. Ông Phạm Văn L1 là bố đẻ của chị L3 xác định, năm 2013 chị L3 sang Đài Loan lao động, từ khi đi chị L3 về Việt Nam hai lần, lần về gần nhất vào năm 2019. Địa chỉ của chị L3 ở nước ngoài, gia đình không biết, nhưng chị L3 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Trước đây chị L3, anh B đều sinh sống, làm việc tại Bình Dương, khi chị L3 đi nước ngoài thì có gửi hai con cho vợ chồng ông chăm sóc, anh B vẫn làm việc tại Bình Dương. Do vợ chồng sống mỗi người một nơi, dẫn đến xảy ra mâu thuẫn. Ông L1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị L3 biết. Thông qua gia đình, cũng như tại buổi làm việc với Tòa án chị L3 trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, từ tháng 6/2023 anh B đã chặn điện thoại, vợ chồng không liên lạc với nhau, nay anh B có đơn ly hôn chị đồng ý. Về con chung chị và anh B có hai con chung là Nguyễn Phạm Duy L2, sinh ngày 31/8/2007 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 12/5/2010. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi hai con, yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị mỗi con là 1.500.000đồng/tháng. Chị ủy quyền cho bố mẹ là ông Phạm Văn L1 và bà Nguyễn Thị X chăm sóc cháu L2 và cháu Á. Về tài sản chung, chị xác định vợ chồng có mua đất tại T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Khi mua hai bên chỉ viết tay, chưa làm thủ tục sang tên, trên đất có xây 01 nhà cấp 4. Nguyện vọng của chị để lại cho hai con, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện chị chưa thể về Việt Nam, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Văn L1 trình bày: Ông là bố đẻ của chị L3, ông đồng ý nhận ủy quyền của chị L3 về việc chăm sóc cháu Nguyễn Phạm Duy L2 và cháu Nguyễn Ngọc Á trong thời gian chị L3 không ở Việt Nam. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Cháu Nguyễn Phạm Duy L2 và Nguyễn Ngọc Á là con chung của chị L3, anh B đều có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị L3 và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh B được ly hôn chị L3. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Duy L2, sinh ngày 31/8/2007 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 12/5/2010 cho chị Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L không ở Việt Nam, tạm giao cháu L2, cháu Á cho ông Phạm Văn L1 chăm sóc. Chấp nhận sự tự nguyện của anh B cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị L mỗi con 1.500.000đồng/tháng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Về án phí: Anh B phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Duy B có địa chỉ tại KTX Công ty P, tổ A, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị Phạm Thị L có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện chị L đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Chị Phạm Thị L ủy quyền cho ông Phạm Văn L1 chăm sóc cháu L2, cháu Á trong thời gian chị không ở Việt Nam nên Tòa án xác định ông L1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Anh B, chị L, ông L1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Duy B và chị Phạm Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai ngày 06/01/2004, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh B xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị L. Quá trình giải quyết vụ án, chị L cũng có quan điểm xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và đồng ý ly hôn anh B. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh B và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh B.

- Về con chung: Anh Nguyễn Duy B và chị Phạm Thị L có hai con chung là Nguyễn Phạm Duy L2, sinh ngày 31/8/2007 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 12/5/2010. Hiện các cháu đang được ông bà ngoại chăm sóc, Để ổn định cuộc sống của hai cháu, ly hôn anh B đồng ý để chị L nuôi hai con. Thông qua gia đình chị L cũng có quan điểm đồng ý nuôi hai con. Xét thấy, hiện tại chị L đang ở nước ngoài, anh B đang làm việc tại Bình Dương, cháu L2 và cháu Á đang theo học tại Hải Dương và được ông bà ngoại chăm sóc, học tập và phát triển tốt. Mặt khác, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của các cháu, cần tiếp tục giao cháu L2, cháu Á cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L không ở Việt Nam, tạm giao cháu L2, cháu Á cho ông Phạm Văn L1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh B cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị L mỗi con là 1.500.000đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Anh Nguyễn Duy B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Duy B được ly hôn chị Phạm Thị L
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Duy L2, sinh ngày 31/8/2007 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 12/5/2010 cho chị Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị L là 1.500.000đồng/1con/tháng, thời gian kể từ tháng 05/2024 cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

    Anh Nguyễn Duy B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

    Tạm giao cháu L2, cháu Á cho ông Phạm Văn L1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L không ở Việt Nam.

    Kể từ khi chị L có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh B không thi hành khoản tiền trên, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.

  3. Về án phí: Anh Nguyễn Duy B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000471 ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh B đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh B còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Anh Nguyễn Duy B, ông Phạm Văn L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tạii các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Quang Trung, huyện Thống nhất, tỉnh Đồng Nai.
  • - UBND xã Hưng Đạo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger