Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tạ Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ma Thanh Trọng

Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hứa Văn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1974 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội Bộ C cấp ngày 17-11-2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số F đường T, khối G, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn L và bà Đàm Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 16-5-1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 năm tù giam về tội Cướp tài sản của công dân, bồi thường cho bị hại 25.000 đồng, chịu án phí hình sự 50.000 đồng, án phí dân sự 50.000 đồng theo Bản án số 48/HS-ST; ngày 09-9-2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 135/2020/HS-ST (đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Ngày 26-12-2023 bị Công an phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 56/QĐ-XPHC; ngày 31-12-2023 bị Công an phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 57/QĐ-XPHC; ngày 25-01-2024 bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 25-01-2024 theo Quyết định số 23/QĐ-UBND (đều chưa được xóa tiền sự); nhân thân: Ngày 06-5-2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; ngày 22-9-2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 05-3-2006 bị Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 200.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 142 QĐ/XPVPHC; ngày 30-3-2005 bị Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 50.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 40 QĐ/XPVPHC; ngày 13-6-2006 bị Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính buộc cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội tỉnh L theo Quyết định số 965/QĐ-UBND; ngày 27-6-2010 bị Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh L theo Quyết định số 1206/QĐ-UBND; ngày 25-5-2020 bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 06/QĐ-XPHC (đều đã được xóa tiền án, tiền sự); bị tạm giữ từ ngày 27-5-2024, tạm giam từ ngày 30-5-2024 đến nay; có mặt.

2. Hứa Đức L1, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1977 tại tỉnh Thái Nguyên; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội Bộ C cấp ngày 07-4-2021; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Đức H1 và bà Ma Thị D1 (đều đã chết); vợ: Đàm Thị T và có 02 con; tiền án: Ngày 09-5-2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 57/2023/HSST (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27-5-2024, tạm giam từ ngày 30-5-2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đàm Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 45 phút ngày 27-5-2024, Công an T đang làm nhiệm vụ tại khu vực phía trước nhà số D, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện, bắt quả tang bị cáo Hứa Đức L1 và bị cáo Hứa Văn H đang thực hiện hành vi tàng trữ ma túy, thu giữ trong bàn tay trái của bị cáo Hứa Văn H 01 (một) gói giấy màu trắng (kích thước 10cm x 17cm), bên trong có 01 (một) gói nilon màu đen (kích thước 01cm x 2,5cm) chứa chất bột màu trắng. Các bị cáo Hứa Văn H và Hứa Đức L1 cùng khai nhận là ma túy H2 do cả hai cùng góp tiền mua để sử dụng chung. Kết quả xét nghiệm nhanh xác định Hứa Văn H, Hứa Đức Linh dương t với chất ma túy MOR.

Ngoài ra còn tạm giữ của Hứa Đức L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ, biển kiểm soát: 12K9 – 4836, số khung: RLHHC1209BY013783, số máy: HC12E-2813862.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L khám xét khẩn cấp nơi ở của các bị cáo Hứa Văn H, Hứa Đức L1 nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật có liên quan.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Hứa Văn H, Hứa Đức L1 khai nhận quen biết nhau từ khoảng năm 2000, đều sử dụng chất ma túy Heroin từ nhiều năm trước đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 27-5-2024, bị cáo Hứa Đức L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ biển kiểm soát: 12K9 – 4836 đến gặp và rủ bị cáo Hứa Văn H góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở bị cáo Hứa Văn H đến khu vực cầu L, thuộc đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, bị cáo Hứa Đức L1 đưa cho bị cáo Hứa Văn H 80.000 đồng và đứng đợi, bị cáo Hứa Văn H điều khiển xe mô tô của bị cáo Hứa Đức L1 đi đến khu vực đường P, khối B, phường V, thành phố L gặp và mua 200.000 đồng (trong đó bị cáo Hứa Văn H góp 120.000 đồng) với một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch), được 01 (một) gói giấy mầu trắng chứa ma túy Heroin. Bị cáo Hứa Văn H cầm gói ma túy trong tay trái và điều khiển xe mô tô quay lại chở bị cáo Hứa Đức L1, đang trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 613/KL-KTHS ngày 29-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: chất bột màu trắng đã thu giữ là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,186 gam (đã trừ bì).

Tại Bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 10-9-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hứa Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hứa Đức L1 về tội Tàn trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Hứa Đức L1 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Hứa Đức L1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Văn H, xử phạt bị cáo 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Đức L1 xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất ma túy là mẫu vật sau giám định; trả lại chị Đàm Thị T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ, biển kiểm soát: 12K9 – 4836, số khung: RLHHC1209BY013783, số máy: HC12E-2813862; căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày, các bị cáo biết hành vi các bị cáo đã thực hiện là sai, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng; giải thích, hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Đàm Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ông Hoàng Văn N là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa, chị Đàm Thị T đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hoàng Văn N đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo quy định tại khoản 1 Điều 292, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hứa Văn H, Hứa Đức L1 đều khai nhận bản thân các bị cáo sử dụng ma túy Heroin từ nhiều năm trước. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27-5-2024, bị cáo Hứa Đức L1 đến nhà bị cáo Hứa Văn H rủ đi mua ma túy về sử dụng và được bị cáo Hứa Văn H đồng ý. Các bị cáo cùng nhau góp tiền và mua với một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch) được 01 (một) gói giấy màu trắng chứa ma túy Heroin, đang trên đường tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang. Khối lượng ma túy các bị cáo tàng trữ là 0,186 gam ma túy Heroin (đã trừ bì). Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Hứa Văn H và Hứa Đức L1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Hứa Văn H có 02 bản án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Hứa Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hứa Đức L1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy còn là hành vi vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, tự hủy hoại sức khỏe của bản thân và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

[5] Bị cáo Hứa Đức L1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do năm 2023 bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý. Bị cáo Hứa Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Hứa Văn H có bố đẻ là Hứa Văn L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất; bị cáo Hứa Đức L1 có mẹ đẻ là Ma Thị D1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo Hứa Văn H có 02 tiền án, 03 tiền sự chưa được xóa nhiều lần bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Hứa Đức L1 có 01 tiền án chưa được xóa. Do đó, đánh giá các bị cáo đều có nhân thân xấu.

[8] Xét về vai trò đồng phạm, đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính giản đơn, bị cáo Hứa Đức L1 là người khởi xướng, rủ rê, còn bị cáo Hứa Văn H là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực, đi tìm nơi mua ma túy để sử dụng. Xác định hai bị cáo có vai trò ngang nhau.

[9] Từ những nhận định trên, thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[10] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Hứa Văn H, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục cơ làm rõ, xử lý đối với người đàn ông này.

[12] Mẫu vật đã giám định đựng trong 01 (một) phong bì đã niêm phong là chất ma túy, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 12K9 – 4836, số khung: RLHHC1209BY013783, số máy: HC12E-2813862, xác định người đứng tên đăng ký là chị Đàm Thị T, là tài sản riêng của chị Đàm Thị T có trước khi kết hôn với bị cáo Hứa Đức L1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Đàm Thị T.

[13] Về án phí: Bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Hứa Đức L1 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[15] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Văn H;
  • Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Đức L1;
  • Khoản 1 Điều 292, Điều 296, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Hứa Đức L1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-5-2024.

Xử phạt bị cáo Hứa Đức L1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-5-2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong.

Trả lại chị Đàm Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 12K9 – 4836, số khung: RLHHC1209BY013783, số máy: HC12E-2813862.

(Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10-9-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

4. Án phí: Bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Hứa Đức L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CATP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; người có QL,NVLQ đến vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 125/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HỨA VĂN H, HỨA ĐỨC L - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger