|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 125/2025/DS-ST Ngày: 01-4-2025 V/v tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Văn Công Trọn
Ông Hồ Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trong các ngày 31 tháng 3 và ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 745/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Tuyết L, sinh năm: 1976.
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L1
Ông Lê Văn D
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2024, lời trình bày tại phiên toà của nguyên đơn thể hiện:
Bà L tham gia hụi do ông D, bà L1 làm chủ cụ thể:
- Ngày 06/03/2018al, hụi 10.000.000 đồng, 06 tháng khui 01 lần, gồm 15 phần, bà L tham gia 01 phần, đóng hụi được 08 lần. Số tiền đóng vào bao nhiêu bà L có theo dõi. Lần mở hụi thứ 09 ông D bỏ hụi hốt nhưng do các dây hụi khác ông D, bà L1 đình hụi nên các hụi viên tham gia yêu cầu đình dây hụi này để trả tiền lại cho các hụi viên. Đối với dây hụi này bà L yêu cầu bà L1, ông D thanh toán cho bà 80.000.000 đồng.
- Ngày 20/8/2019al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, gồm 21 phần, bà L tham gia 01 phần. Đối với dây hụi này bà L1 đã lấy tên là L để hốt vào lần thứ 21, bà L đồng ý và bà L vẫn đóng hụi sống cho bà L1 đến lần thứ 25 thì đình hụi. Bà L yêu cầu bà L1 thanh toán cho bà L, ông D số tiền 50.000.000 đồng.
- Ngày 27/10/2020dl, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, gồm 42 phần, bà L tham gia 01 phần, đóng hụi được 11 lần. Số tiền đóng vào bao nhiêu bà L không có theo dõi.
Trong dây hụi này bà L có mua 01 phần hụi của bà Trần Thị D1, do bà L1 đứng bán, bà L giao dịch trực tiếp với bà L1, không giáp mặt bà D1 (Hiện nay không còn sinh sống ở địa phương). Mua hụi ở lần thứ 3, tính giá bỏ hụi là 910.000 đồng, 02 lần hụi chết = 4.000.000 đồng, 40 lần hụi sống x 1.090.000 đồng x 40 = 43.600.000 đồng. Tổng cộng bà L giao cho bà L1 số tiền 47.600.000 đồng.
Đối với dây hụi này bà L yêu cầu trả số tiền (11 lần x 2.000.000 đồng) + (42 lần x 2.000.000 đồng) = 106.000.000 đồng.
- Ngày 20/12/2020dl, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, gồm 24 phần, bà L tham gia 01 phần, đóng hụi được 11 lần. Số tiền đóng vào bao nhiêu bà L không theo dõi.
Trong dây hụi này bà L có mua 01 phần hụi của bà Trần Thị D1, do bà L1 đứng bán, mua bao nhiêu bà L không nhớ.
Đối với dây hụi này bà L yêu cầu trả số tiền (11lần x 2.000.000 đồng) + (24 lần x 2.000.000 đồng) = 70.000.000 đồng.
- Ngày 15/11/2020dl, hụi 500.000 đồng, 01 tháng khui 02 lần, gồm 40 phần, bà L tham gia 02 phần, đóng hụi được 22 lần. Số tiền đóng vào bao nhiêu bà L không theo dõi. Bà L yêu cầu bà L1, ông D trả số tiền 22.000.000 đồng.
- Ngày 06/5/2021dl, hụi 500.000 đồng, 01 tháng khui 02 lần, gồm 46 phần, bà L tham gia 02 phần, đóng hụi được 10 lần. Số tiền đóng vào bao nhiêu bà L có theo dõi.
Trong dây hụi này bà L có mua 01 phần hụi của bà Phạm Thị L2, do bà L1 đứng bán, mua bao nhiêu bà L không nhớ.
Đối với dây hụi này bà L yêu cầu trả số tiền (10lần x 500.000 đồng x 02 phần) + (46 lần x 500.000 đồng) = 33.000.000 đồng.
Tổng số tiền bà L1, ông D nợ bà L hụi do bà L1 làm chủ là 361.000.000 đồng. Nội dung tranh chấp này trước đây bà L đã có khởi kiện bà L1, ông D vào tháng 4/2022. Tại phiên toà, bà L1 thống nhất số nợ và thoả thuận thanh toán nên bà L rút đơn khởi kiện nhưng sau đó bà L1 không thanh toán.
Bà L1, ông D tham gia hụi do bà L làm chủ, cụ thể:
- Hụi ngày 19/8/2020al, hụi 3.000.000 đồng, 02 tháng khui 01 lần, tất cả có 35 phần, bà L1, ông D tham gia 02 phần, đến lần thứ 4 bán lại cho bà L 01 phần (Không có tranh chấp, thanh toán dứt điểm). Dây hụi này sau khi hốt còn nợ lại 26 lần x 3.000.000 đồng = 78.000.000 đồng.
- Hụi ngày 29/02/2021al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 35 phần, bà L1, ông D tham gia 02 phần. Đến lần thứ 6 hốt 01 phần, còn nợ lại 28 lần hụi = 56.000.000 đồng. Phần hụi còn lại bán lại cho bà L vào ngày 29/9/2021al, bán với giá bỏ hụi là 900.000 đồng. Sau khi bán hụi bà L không đóng hụi chết nên còn nợ 70.000.000 đồng. Tổng dây hụi này còn nợ 126.000.000 đồng.
Bà L có cùng bà L1, ông D tham gia hụi do người khác làm chủ, cụ thể:
- Tham gia hụi do bà Nguyễn Thị P, địa chỉ ấp A, xã K. Hụi mở ngày 09/9/2019al, loại hụi 3.000.000 đồng, có 28 phần, bà L tham gia 01 phần, bà L1, ông D tham gia 02 phần. Bà L1 bỏ hụi hốt lần đầu nhưng bà P không đồng ý nên là L1 bảo lãnh để bà P cho bà L1 hốt. Sau khi hốt bà L1 không đóng hụi. Bà L1 phải xuất đóng thay cho bà P 48.000.000 đồng. Ngoài ra, bà L1 bán lại cho bà L phần hụi còn lại với giá 84.000.000 đồng. Sau khi bán bà L1 không đóng hụi lại. Tổng đối với dây hụi này bà L1 còn nợ lại số tiền 132.000.000 đồng.
- Hụi do ông Nguyễn Văn T, địa chỉ ấp A, xã K, huyện T, làm chủ:
- Hụi ngày 30/01/2019al. Hụi 5.000.000 đồng, 04 tháng khui 01 lần, tất cả có 22 phần, bà L tham gia 02 phần, bà L1 tham gia 02 phần, bà L1 nợ lại bà L 01 phần hụi số tiền 5.000.000 đồng.
- Hụi ngày 17/9/2020al. Hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 45 phần, bà L tham gia 01 phần, bà L1 tham gia 02 phần, bà L1 hốt hết 02 phần hụi, còn nợ lại bà L 4.000.000 đồng.
Hai dây hụi do ông T làm chủ là hụi dưới hình thức hùn vốn của Hội phụ nữ, nông dân, cử ông T làm đại diện, ông T không được nhận hoa hồng, các hụi viên tự giao tiền hụi cho nhau nên bà L khởi kiện bà L1, ông D đối với số tiền còn nợ là 9.000.000 đồng.
- Ngày 15/11/2019 dương lịch, ông Nguyễn Việt H, địa chỉ ấp B, xã K là chủ dây hụi 5.000.000 đồng. Đối với phần hụi này, bà L rút yêu cầu khởi kiện để tự thoả thuận, trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ gải quyết thành vụ kiện khác.
- Ngoài ra, ngày 15/8/2021dl, bà L có tham gia hụi bằng vàng giùm cho bà L1, ông D. Bà L giao cho ông D, bà L1 số vàng 21 chỉ vàng 24k, thoả thuận thanh toán dưới hình thức hụi, thanh toán mỗi tháng 1 chỉ và 3.400.000 đồng. Sau đó, bà L1 ông D có trả được 01 chỉ vàng và 3.400.000 đồng. Đối với khoản này, bà L yêu cầu thanh toán 20 chỉ vàng 24k và 68.000.000 đồng.
Tổng cộng bà L yêu cầu bà L1, ông D trả số tiền 774.000.000 đồng và 20 chỉ vàng 24k.
Đối với bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Văn D mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng bà L1, ông D vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện giao dịch đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Đối với các phần hụi bà L tham gia, ông D, bà L1 làm chủ:
Trong vụ án thụ lý số 193/2022/TLST-DS ngày 29/4/2022, có ghi lời khai của bà Nguyễn Thị L1 vào ngày 26 tháng 8 năm 2022, bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Bà L1 là chủ hụi, bà L có tham gia của bà L1 các dây hụi cụ thể như sau:
Hụi mở ngày 22/12/2020 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 24 chưng, 01 tháng khui 01 lần, bà L tham gia 01 chưng. Hụi này đình hụi vào ngày 22/12/2021. Khi đó bà L chưa hốt chưng hụi này, bà L đóng được 11 lần hụi sống với số tiền 12.940.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà L số tiền hụi bà L đã đóng cho bà. Bà L đóng hụi được 11 lần với số tiền là 12.940.000 đồng.
Ngoài ra đối với dây hụi này có bà Trần Thị D1, sinh năm 1964 (Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T) tham gia 03 chưng. Vào ngày 22/02/2021 giữa bà và bà L, bà D1 thỏa thuận bà D1 bán lại cho bà L 01 chưng hụi. Cụ thể bà D1 hốt hụi, nhưng bà L là người giao số tiền hốt hụi cho bà D1, do vào kỳ bỏ hụi đó bà D1 bỏ hụi nhưng không hốt được. Bà L đã giao cho bà D1 số tiền là 24.670.000 đồng. Khi đó thỏa thuận hằng tháng bà D1 sẽ đóng cho bà L1 số tiền 2.000.000 đồng, hụi viên bỏ hụi hốt ở kỳ đó số tiền bao nhiêu thì bà L1 sẽ đưa lại cho bà L số tiền bằng số tiền hụi viên bỏ để hốt hụi. Bà L1 đã đưa cho bà L số tiền hụi viên bỏ hốt hụi 09 lần, với số tiền là 7.740.000 đồng. Đến khi mãn hụi, bà L sẽ là người nhận tiền hụi đối với chưng hụi này của bà D1 là 48.000.000 đồng.
Tuy nhiên, bà D1 sau khi nhận tiền hốt hụi của bà L giao thì chỉ đóng hụi được 09 lần, sau đó đình hụi và bà D1 không đóng hụi cho bà L1 tiếp. Bà L1 có khởi kiện đối với bà D1 về việc nợ tiền hụi, trong đó có chưng hụi này. Khi giải quyết tại Tòa án, bà D1 đồng ý trả cho bà số tiền hụi 22.000.000 đồng đối với chưng hụi này. Tranh chấp hụi giữa bà L1 và bà D1 đã được giải quyết tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 193/2022/QĐST-DS ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Đối với chưng hụi này bà L1 đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đưa cho bà D1 là 24.670.000 đồng.
Hụi mở ngày 20/8/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 30 chưng, 01 tháng khui 01 lần, bà L tham gia 03 chưng. Bà L đã hốt hai chưng hụi. Hụi hiện nay đã mãn, hai chưng hụi chết bà L đóng hụi đầy đủ tới mãn hụi. Còn 01 chưng hụi sống bà L đóng hụi sống được 21 lần, tới ngày 20/02/2021 thì bà mượn của bà L chưng hụi này. Bà L đồng ý cho mượn để bà hốt, bà hốt hụi được số tiền 49.700.000 đồng. Khi đó giữa bà và L thỏa thuận bà hốt hụi, đến tháng 01/2022 thì bà L1 trả cho bà L 50.000.000 đồng. Đồng thời hằng tháng bà trả cho bà L 2.000.000 đồng cho đến khi mãn hụi nhưng bà chỉ trả được 06 lần thì đình hụi. Đối với chưng hụi này bà thừa nhận còn nợ lại bà L 50.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà L 50.000.000 đồng.
Hụi mở ngày 27/10/2020 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 42 chưng, 01 tháng khui một lần, bà L tham gia 01 chưng. Bà L đóng hụi sống được 11 lần với số tiền là 10.135.000 đồng thì đình hụi. Nay bà đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đóng hụi là 10.135.000 đồng.
Ngoài ra đối với dây hụi này có bà Trần Thị D1, sinh năm 1964 (Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T) tham gia 03 chưng. Vào ngày 27/01/2021 giữa bà và bà L, bà D1 thỏa thuận bà D1 bán lại cho bà L 01 chưng hụi. Cụ thể bà D1 hốt hụi, nhưng bà L là người giao số tiền hốt hụi cho bà D1, do vào kỳ bỏ hụi đó bà D1 bỏ hụi nhưng không hốt được. Bà L đã giao cho bà D1 số tiền là 34.450.000 đồng. Khi đó thỏa thuận hằng tháng bà D1 sẽ đóng cho bà L1 số tiền 2.000.000 đồng, hụi viên bỏ hụi hốt ở kỳ đó số tiền bao nhiêu thì bà L1 sẽ đưa lại cho bà L số tiền bằng số tiền hụi viên bỏ để hốt hụi. Bà L1 đã đưa cho bà L số tiền hụi viên bỏ hốt hụi 08 lần, với số tiền là 8.900.000 đồng. Đến khi mãn hụi, bà L sẽ là người nhận tiền hụi đối với chưng hụi này của bà D1 là 84.000.000 đồng.
Tuy nhiên, bà D1 sau khi nhận tiền hốt hụi của bà L giao thì chỉ đóng hụi được 08 lần, sau đó đình hụi và bà D1 không đóng hụi cho bà tiếp. Bà có khởi kiện đối với bà D1 về việc nợ tiền hụi, trong đó có chưng hụi này. Khi giải quyết tại Tòa án, bà D1 đồng ý trả cho bà số tiền hụi 62.000.000 đồng đối với chưng hụi này. Tranh chấp hụi giữa bà và bà D1 đã được giải quyết tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 193/2022/QĐST-DS ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Đối với chưng hụi này bà L1 đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đưa cho bà D1 là 34.450.000 đồng.
Hụi mở ngày 06/5/2021 dương lịch, loại hụi 500.000 đồng, gồm 46 chưng, 01 tháng khui hai lần, bà L tham gia 02 chưng. Bà L đóng hụi sống được 10 lần cho một chưng với số tiền là 2.883.000 đồng/01 chưng thì đình hụi, tổng hai chưng bà L đóng hụi sống số tiền 5.766.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đóng hụi là 5.766.000 đồng.
Ngoài ra đối với dây hụi này có bà Phạm Thị L2, sinh năm 1980 (Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T) tham gia 02 chưng. Vào ngày 20/7/2021 giữa bà và bà L, bà L2 thỏa thuận bà L2 bán lại cho bà L 01 chưng hụi. Cụ thể bà L2 hốt hụi, nhưng bà L là người giao số tiền hốt hụi cho bà L2, do vào kỳ bỏ hụi đó bà L2 bỏ hụi nhưng không hốt được. Bà L đã giao cho bà L2 số tiền là 12.800.000 đồng. Khi đó thỏa thuận hằng tháng bà L2 sẽ đóng cho bà L1 số tiền 500.000 đồng, hụi viên bỏ hụi hốt ở kỳ đó số tiền bao nhiêu thì bà L1 sẽ đưa lại cho bà L số tiền bằng số tiền hụi viên bỏ để hốt hụi. Bà L1 đã đưa cho bà L số tiền hụi viên bỏ hốt hụi 04 lần, với số tiền là 840.000 đồng. Đến khi mãn hụi, bà L sẽ là người nhận tiền hụi đối với chưng hụi này của bà L2 là 23.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà L2 sau khi nhận tiền hốt hụi của bà L giao thì chỉ đóng hụi được 04 lần. Đối với chưng hụi này bà đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đưa cho bà L2 là 12.800.000 đồng.
Hụi mở ngày 15/11/2020 dương lịch, loại hụi 500.000 đồng, gồm 40 chưng, 01 tháng khui hai lần, bà L tham gia 02 chưng. Bà L đóng hụi sống được 21 lần cho một chưng với số tiền là 6.038.000 đồng/01 chưng thì đình hụi, tổng hai chưng bà L đóng hụi sống số tiền 12.076.000 đồng. Nay bà L1 đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đóng hụi là 12.076.000 đồng.
Ngoài ra chồng bà là ông Lê Văn D có làm chủ hụi, bà L có tham gia hụi cụ thể như sau: Hụi mùa mở ngày 06/3/2018 âm lịch, loại hụi 10.000.000 đồng, gồm 15 chưng, 06 tháng khui 01 lần, bà L tham gia 01 chưng. Bà L đóng hụi sống được 08 lần với số tiền là 41.600.000 đồng thì đình hụi. Nay bà đồng ý trả cho bà L số tiền bà L đã đóng hụi là 41.600.000 đồng.
Bà L1 xác định bà L1 và ông Lê Văn D là vợ chồng. Đối với dây hụi do ông D là chủ hụi bà L1 xác định là hụi của vợ chồng nhưng do ông D là chủ hụi đại diện. Đối với hụi do bà là chủ hụi cũng là hụi của vợ chồng nhưng do bà L1 đại diện chủ hụi. Bà L1 xác định đối với các khoản nợ hụi đối với bà L là nợ chung của vợ chồng bà và ông D vì nó phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và lãi hụi, thu nhập từ hụi dùng để phục vụ kinh tế và sinh hoạt chung trong gia đình.
Bà L1 thừa nhận có nợ bà L các khoản tiền hụi như bà L đã trình bày. Nhưng, do hoàn cảnh có nhiều hụi viên nợ tiền hụi của bà L1 nên dẫn đến bà L1 nợ tiền hụi của bà L. Nay bà không có khả năng trả nợ một lần cho bà L, khi nào bà thu được tiền nợ hụi của các hụi viên khác bà sẽ trả cho bà L.
Đối với phần hụi do bà L1, ông D làm chủ, bà L yêu cầu bà L1, ông D thanh toán số tiền tổng cộng là 361.000.000 đồng. Bà L1 thống nhất toàn bộ nội dung giao dịch hụi, số tiền góp hụi vào bà L1 trình bày nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh, các lần bán hụi đều do bà L1 đứng bán và ký nhận nợ cho bà L và tranh chấp giữa bà L1 với các hụi viên bán hụi có tranh chấp đã dược giải quyết nên trách nhiệm thanh toán thuộc về bà L1. Do đó, bà L1, ông D phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà L số tiền 361.000.000 đồng là phù hợp.
[2.2] Đối với các các phần hụi bà L1, ông D tham gia, bà L làm chủ: Theo nguyên đơn, hụi ngày 19/8/2020al, hụi 3.000.000 đồng, 02 tháng khui 01 lần, tất cả có 35 phần, bà L1, ông D tham gia 02 phần, đến lần thứ 4 bán lại cho bà L 01 phần (Không có tranh chấp, thanh toán dứt điểm). Dây hụi này sau khi hốt còn nợ lại 26 lần x 3.000.000 đồng = 78.000.000 đồng. Hụi ngày 29/02/2021al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 35 phần, bà L1, ông D tham gia 02 phần. Đến lần thứ 6 hốt 01 phần, còn nợ lại 28 lần hụi = 56.000.000 đồng. Phần hụi còn lại bán lại cho bà L vào ngày 29/9/2021al, bán với giá bỏ hụi là 900.000 đồng. Sau khi bán hụi bà L không đóng hụi chết nên còn nợ 70.000.000 đồng. Tổng dây hụi này còn nợ 126.000.000 đồng. Đối với yêu cầu này, nguyên đơn có nộp các danh sách hụi, giấy giao tiền hụi cho bị đơn. Bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn nên chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, ông D, bà L1 phải thanh toán cho bà L số tiền đối với phần hụi do bà L làm chủ là 204.000.000 đồng.
[2.3] Đối với hụi do bà Nguyễn Thị P, làm chủ. Theo nguyên đơn. bà L1 bỏ hụi hốt lần đầu nhưng bà P không đồng ý nên là L bảo lãnh để bà P cho bà L1 hốt. Sau khi hốt bà L1 không đóng hụi. Bà L phải xuất đóng thay cho bà P 48.000.000 đồng. Ngoài ra, bà L1 bán lại cho bà L phần hụi còn lại với giá 84.000.000 đồng. Sau khi bán bà L1 không đóng hụi lại. Tổng đối với dây hụi này bà L1 còn nợ lại số tiền 132.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, bà L cho rằng bà L bảo lãnh cho bà L1 hốt hụi và đã đóng hụi đủ cho bà P. Tuy nhiên, bà L1 ký biên nhận trực tiếp cho bà L, có việc chuyển giao nghĩa vụ do đó buộc bà L1, ông D thanh toán cho bà L số tiền 132.000.000 đồng là phù hợp.
[2.4] Đối với hụi do ông Nguyễn Văn T, làm chủ:
Theo nguyên đơn, hụi ngày 30/01/2019al. Hụi 5.000.000 đồng, 04 tháng khui 01 lần, tất cả có 22 phần, bà L tham gia 02 phần, bà L1 tham gia 02 phần, bà L1 nợ lại bà L 01 phần hụi số tiền 5.000.000 đồng; Hụi ngày 17/9/2020al. Hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 45 phần, bà L tham gia 01 phần, bà L1 tham gia 02 phần, bà L1 hốt hết 02 phần hụi, còn nợ lại bà L 4.000.000 đồng.
Hai dây hụi do ông T làm chủ là hụi dưới hình thức hùn vốn của Hội phụ nữ, nông dân, cử ông T làm đại diện, ông T không được nhận hoa hồng, các hụi viên tự giao tiền hụi cho nhau nên bà L khởi kiện bà L1, ông D là phù hợp. Bà L cung cấp danh sách hụi, biên nhận đối với việc tham gia hụi. Bị đơn không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu này của nguyên đơn nên buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ 9.000.000 đồng là phù hợp.
[2.5] Ngày 15/8/2021dl, bà L có cho bà L1, ông D có nhờ bà L tham gia hụi vàng, bà L giao cho bà L1, ông D số vàng 21 chỉ vàng 24k, thoả thuận thanh toán dưới hình thức hụi, thanh toán mỗi tháng 1 chỉ và 3.400.000 đồng. Sau đó, bà L1 ông D có trả được 01 chỉ vàng và 3.400.000 đồng. Đối với khoản này, bà L yêu cầu thanh toán 20 chỉ vàng 24k và 68.000.000 đồng. Đối với yêu cầu này của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù nguyên đơn cho rằng giao vàng cho ông D, bà L1 dưới hình thức góp hụi nhưng ông D, bà L1 không trực tiếp tham gia giao dịch hụi nên giao dịch này giữa cá đương sự được xác định là vay tài sản, theo quy định không tính lãi chậm trả đối với vàng nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả 20 chỉ vàng 24k, không chấp nhận yêu cầu đối với số tiền 68.000.000 đồng.
[2.6] Đối với phần hụi do ông Nguyễn Việt H là chủ. Bà L rút yêu cầu khởi kiện để tự thoả thuận, trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác. Việc rút yêu cầu này của bà L là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần hụi này.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Văn D phải chịu án phí đối với nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho bà L. Bà Lê Tuyết L phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận. (Giá vàng được áp dụng tính án phí là 9.780.000 đồng/chỉ vàng 24k)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ Điều 147, Điều 217, 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tuyết L. Buộc bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Văn D có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Tuyết L số tiền 706.000.000 đồng (Bảy trăm lẻ sáu triệu đồng) và 20 chỉ vàng 24k (hai mươi chỉ vàng hai mươi bốn kara).
Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Tuyết L đối với yêu cầu (tính lãi vàng), yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Văn D trả cho bà L 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tuyết L, đối với dây hụi ngày 15/11/2019 dl, do ông Nguyễn Việt H làm chủ, yêu cầu bà L1, ông D trả số tiền là 7.500.000 đồng.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 39.048.000 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn mươi tám ngàn đồng), chưa nộp. Bà Lê Tuyết L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.400.000 đồng, bà Lê Tuyết L có nộp tiền tạm ứng án phí là 19.943.000 đồng tại biên lai số 0005461 ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được đối trừ, còn dư được trả lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, nguyên đơn tính kể từ ngày tuyên án, bị đơn tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 125/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 125/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
