|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 125/2024/HSST Ngày: 16/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Xuân Thiều
Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/HSST-QĐ ngày 04/12/2024 đối với bị cáo:
HUỲNH VĂN L
, sinh năm 1986, tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Cao Văn T (đã chết) và bà Huỳnh Thị H; Vợ: Đặng Kim N, sinh năm 1987; Con: Đặng Nhã Q, sinh năm 2013 và Huỳnh Trọng Đ, sinh năm 2022; Tiền án: 01 tiền án (Tại Bản án số 30/HSST ngày 06/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt Huỳnh Văn L 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung và chưa nộp tiền án phí); Tiền sự: 01 (Tại Quyết định số 25, ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, quyết định đưa Huỳnh Văn L đi cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Lê Duy N1, sinh năm 2004; Thường trú: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Nhật H1, sinh năm 1996; Trú tại: Khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1955; Thường trú: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Văn L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý và không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, rồi bán lấy tiền.
Khoảng 11 giờ ngày 01/09/2024, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển số 54Y4-4216, màu xanh đi tìm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm, khi đến nhà trọ “Hoàng Khoang”, địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, L điều khiển xe mô tô đi vào dãy nhà trọ để tìm tài sản, L phát hiện cửa phòng số 7 của nhà trọ chỉ khép hờ không khoá và trên gác lửng có anh Lê Duy N1 đang nằm ngủ, L lẻn vào lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh của anh N1 đang để trên gác rồi ra xe mô tô bỏ đi.
Sau khi lấy trộm được điện thoại của anh N1. L mang đến cửa hàng mua bán điện thoại “Nhi Store” do anh Nguyễn Nhật H1, sinh năm 1996, địa chỉ: Khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước làm chủ để bán. Khi bán điện thoại do máy có mật khẩu nên L nói với anh H1 “điện thoại của L cho con nhỏ ở nhà chơi, nghịch cài đặt bị khoá máy không nhớ rõ mật khẩu”. Do vậy, anh H1 nói với L “nếu điện thoại bị quên mật khẩu thì chỉ mua theo dạng linh kiện với giá 3.000.000 đồng”, L đồng ý bán cho anh H1, số tiền bán điện thoại L sử dụng tiêu xài và mua ma tuý sử dụng hết. Sau khi mua điện thoại do L bán thì anh H1 tháo linh kiện máy bán cho khách được số tiền 3.500.000 đồng, chỉ còn lại vỏ (mặt sau) của máy.
Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, anh N1 thức dậy phát hiện điện thoại di động của mình đã bị mất trộm nên đến Công an phường M, thị xã C để trình báo. Qua truy xét đến ngày 02/9/2024 thì Công an phường M, thị xã C đã làm việc với Huỳnh V và L đã khai nhận hành vi trộm cắp điện thoại di động của anh N1 như đã nêu trên.
Bản kết luận định giá tài sản số 55/KLĐG ngày 09/9/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh của anh Lê Duy N1 tại thời điểm xảy ra vụ án có giá trị là 9.000.000 (chín triệu) đồng.
Về vật chứng vụ án:
- - 01 vỏ của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh do anh Nguyễn Nhật H1 giao nộp;
- - Số tiền 3.500.000₫ do anh Nguyễn Nhật H1 giao nộp (đây là số tiền tháo linh kiện máy điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh của anh Lê Duy N1 bán cho khách hàng;
- - 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng-màu đen; 01 quần sọc màu xám; 01 áo thun thể thao màu xanh của bị cáo L.
- - 01 USB (đã được niêm phong) lưu trữ hình ảnh được trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh Huỳnh Văn L thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 01/09/2024, chuyển theo hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người bị hại anh Lê Duy N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nhật H1 vắng mặt, anh N1 có đơn xin vắng mặt, anh H1 vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, anh N1 và anh H1 đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của anh N1 và anh H1 tại phiên toà không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Huỳnh Văn L có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích; do lười lao động và để có tiền tiêu xài L đã thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 9 năm 2024, L đã lén lút vào phòng ở thuê trọ thuộc nhà trọ H2, địa chỉ tại khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh của anh Lê Duy N1, giá trị tài sản bị cáo L chiếm đoạt của anh N1 là 9.000.000 (chín triệu) đồng (Tại Kết luận định giá số 55/KLĐG ngày 09/9/2024 ). Hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản nên Cáo trạng số 121/CT-VKSCT ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) la có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[6]. Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi; Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp Luật Hình sự bảo vệ, bị cáo là người có sức khoẻ nhưng lười lao động, để có tiền tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần thiết phải xử lý nghiêm khắc bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, do bị cáo không có công việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Duy N1 yêu cầu bị cáo L bồi thường số tiền 9.000.000 đồng là giá trị tài sản bị bị cáo L chiếm đoạt, yêu cầu của anh N1 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo L phải bồi thường cho anh N1 số tiền nêu trên.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- - Số tiền 3.500.000 đồng là số tiền anh H1 bán điện thoại mua của bị cáo L, do anh H1 không biết điện thoại này L trộm cắp mà có và anh H1 yêu cầu được trả lại số tiền 3.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho anh H1 số tiền 3.000.000 đồng, số tiền 500.000 đồng còn lại cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- - 01 vỏ của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng - màu đen; 01 quần sooc màu xám; 01 áo thun thể thao màu xanh của bị cáo L, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu SWM, Newmoto star, màu xanh-đen, biển số 54Y4-4216, số máy: VAEAD-505047, số khung: 1HD7D-505047, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử lý trả lại cho bà Huỳnh Thị H tại quyết định xử lý vật chứng số: 594/QĐ-ĐTTH ngày. 27/9/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết;
[10]. Về hành vi của Nguyễn Nhật H1: Quá trình điều tra xác định anh H1 không biết điện thoại mua của bị cáo L là do bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
[11]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12]. Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Huỳnh Văn L bồi thường cho anh Lê Duy N1 số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; 47 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Trả lại cho anh Nguyễn Nhật H1 số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng;
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng - màu đen; 01 quần sooc màu xám; 01 áo thun thể thao màu xanh.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Huỳnh Văn L phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu số tiền 450.000 (bốn trăm năm mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Mạnh |
Bản án số 125/2024/HSST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 125/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn L bị xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản
