|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13/12/2024
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và bà Phan Thị Oanh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền- Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 311/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990
- Bị đơn: Anh Dương Minh T, sinh năm 1987
Trú tại: thôn Mỹ Trung, xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
Trú tại: 3 L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên
Chị H có mặt, anh T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H2, thành phố T và được Ủy ban nhân dân phường H2, thành phố T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 17/9/2012. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng từ năm 2015 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng và anh T không có trách nhiệm với gia đình. Do chịu đựng không nổi, nên khi con lên 03 tuổi tôi phải ẵm con về tá túc nhà cha mẹ đẻ và ly thân từ đó cho đến nay ai sống ra sao thì sống, không quan tâm đến nhau. Nay tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 con chung: cháu Dương Nhã H1, sinh ngày 07/7/2013. Sau khi ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi cháu H1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bị đơn anh T; được trực tiếp nuôi con chung; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi chung; tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát cùng cấp và người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định về quyền, nghĩa vụ và nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt nên phải gánh chịu hậu quả pháp lý do vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của nguyên đơn chị H; giao 01 con chung cho chị H trực tiếp nuôi sau ly hôn; nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung do không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn chị H phải chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T vắng mặt đến lần thứ hai nhưng không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị H:
Tại phiên tòa, chị H trình bày lý do yêu cầu ly hôn là vì cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài và đã ly thân hơn 08 năm không ai quan tâm đến ai.
Tại biên bản xác minh ngày 13/11/2024, ông Hồ Văn M- Khu phố trưởng khu phố L, phường B, thành phố T cung cấp: “Dương Minh T, sinh năm 1987. Hiện trú tại:3 L, phường B, thành phố T. Hiện nay T có mặt tại địa phương và là tài xế xe điện. Về tình trạnh hôn nhân của anh T với chị H thì khu phố không nắm được. Chị H không có mặt tại địa phương đã lâu”
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh T vẫn không có mặt, cho thấy bị đơn anh T cố ý bỏ mặc cho hôn nhân của mình và bị đơn anh T phải gánh chịu hậu quả pháp lý từ việc vắng mặt của mình.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị H anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H.
[3] Về con chung: Tại bản trình bày (bút lục 15), cháu H1 ghi: “Cháu đang học lớp 6 tại xã H có nguyện vọng xin được ở với mẹ vì lý do từ ngày sinh cháu ra, ba cháu không lo gì đến mẹ con cháu nên cháu không thể ở với ba”. Xét, hiện nay cháu H1 đang ở với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc; cháu đã ổn định việc học tập, nơi sinh sống và có nguyện vọng tha thiết được sống cùng mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị H, giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu H1.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị H không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 91, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ly hôn với anh Dương Minh T. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Minh T.
- Về con chung: giao cháu Dương Nhã H1, sinh ngày 07/7/2013 cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002810 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về ly hôn
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
