Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-12-2024

V/v “Tranh chấp xin ly hôn

và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hồng Lưu

2. Bà Lê Thị Xuân Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Đức Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 441/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 458/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1999

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: Số H, khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Bà T có mặt, ông H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Phần trình bày của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa như sau:

Bà T và ông H tự tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân. Bà T và ông H có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/4/2017. Quá trình sống chung, bà và ông H có hai người con chung tên Nguyễn Nhựt H1, sinh

ngày 21/02/2018 (nam) và Nguyễn Khánh H2, sinh ngày 16/5/2019 (nam). Hiện nay các con chung đang sống chung với bà T.

Thời gian đầu chung sống thì hạnh phúc nhưng về sau thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn tiếng nói chung, tính cách không còn hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Nay, cảm thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà T xin giành quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng cho mỗi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, yêu cầu giành quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông Nguyễn Chí H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn ông Nguyễn Chí H vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Huỳnh Ngọc T và ông Nguyễn Chí H có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp thuộc Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông H có địa chỉ cư trú tại số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông H vắng mặt không rõ lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà T, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T và ông H không còn tiếng nói chung, tính cách không còn hợp nhau nữa nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi dẫn đến hôn nhân giữa bà T và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị

đơn ông H không đến Tòa án chứng tỏ ông H cũng không còn tha thiết, quan tâm đến quan hệ hôn nhân với vợ của ông là bà T. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ cả hai phía, cả hai vợ chồng phải có tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau và cho các thành viên còn lại trong gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng đến mức không thể vận động đoàn tụ vợ chồng do ông bà đã không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Nguyên đơn bà T và bị đơn ông H có hai người con chung tên Nguyễn Nhựt H1, sinh ngày 21/02/2018 (nam) và Nguyễn Khánh H2, sinh ngày 16/5/2019 (nam). Xét thấy, hiện tại cháu H1 và cháu H2 đều đang sinh sống cùng bà T, việc ăn học của các cháu hiện cũng do bà T trực tiếp chăm lo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao cả hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Ông H được quyền thăm nom, giáo dục con chung và không ai được quyền cản trở ông H thực hiện quyền này.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Do xét xử vắng mặt bị đơn ông H và nguyên đơn bà T xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Chí H, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Chí H.

Về con chung: Giao cả hai người con chung tên Nguyễn Nhựt H1, sinh ngày 21/02/2018 (nam) và Nguyễn Khánh H2, sinh ngày 16/5/2019 (nam) cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H, không ai được ngăn cản ông H thực hiện quyền này. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án để thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Huỳnh Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008225 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà T đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - UBND xã Trung Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Võ Trung Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Chí H, cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Chí H. Về con chung: Giao cả hai người con chung tên Nguyễn Nhựt H1, sinh ngày 21/02/2018 (nam) và Nguyễn Khánh H2, sinh ngày 16/5/2019 (nam) cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger