|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/DS-PT Ngày 09/12/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Thẩm phán:
Ông Võ Văn Bình
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Vân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 165/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Hoàng V; địa chỉ: G W, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M; địa chỉ: F W, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Mỹ H; địa chỉ: G W, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị M.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đức N. Địa chỉ: B L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đức N. Địa chỉ: B L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Cao Hoàng V trình bày:
Ông Cao Hoàng V nhận chuyển nhượng đất từ năm 1988. Phần diện tích đất phía trước giáp mặt đường đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở số 3027/CNSH do Sở xây dựng tỉnh G - Kon Tum cấp ngày 29/9/1990. Riêng phần diện tích đất phía sau 669,9m² tại thửa 80, 81, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: tại tổ A, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai là loại đất nông nghiệp chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông V làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất phía sau, khi ký giáp ranh thì phát sinh tranh chấp với đất với bà Nguyễn Thị M có diện tích 7,5 m². Phần đất có tranh chấp có tứ cận phía Đông giáp đất ông V, dài 25m; phía Tây giáp đất bà M, dài 25m; phía Nam giáp thửa đất số 81,dài 0,3m; phía Bắc giáp thửa đất số 06, dài 0,3m. Bà M nhận chuyển nhượng đất sau nhà ông V và bà M đã xây dựng nhà 04 tầng kiên cố nhưng bà M cho rằng còn 30cm đất phía bên hông nhà là của bà. Ngày 14/10/2022 Ủy ban nhân dân phường I, thành phố P tiến hành hoà giải nhưng không thành và hướng dẫn các bên khởi kiện ra Toà án để giải quyết. Đất nhà ông V nhận chuyển nhượng năm 1988, đất nhà bà M nhận chuyển nhượng từ năm 1993, bà M đã xác định đúng ranh giới đất và xây nhà kiên cố. Việc bà M tranh chấp đất với nhà ông V là không đúng vì phần đất này gia đình ông V sử dụng từ năm 1988 đến nay. Đất bà M nguyên trước đây phần cuối nhà chỉ có 7,7 m mặt đường nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cấp 8 mét là sai quy định, xâm phạm vào đất của của gia đình ông V. Tuy nhiên, sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích đất tranh chấp chỉ là 2,25m², hiện nay V đã xây dựng nhà trọ trên phần đất này. Do đó ông V thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết công nhận phần diện tích đất 2,25m² mà ông V đã xây nhà trọ trên đó là thuộc quyền sử dụng của ông, để ông V làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có tứ cận phía Đông giáp đất ông V, dài 19,49m; phía Tây giáp đất bà M, dài 19,49m; phía Nam giáp đất của cả hai bên có kích thước bằng 0m; phía Bắc giáp nhà trọ của ông Vũ D 0,23m. Đối với yêu cầu phản tố của bà M, ông V không đồng ý.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Cao Hoàng V. Năm 2009, bà xin giấy phép xây dựng căn nhà tại số F W, tổ A, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thời điểm đó do giữa đất bà với đất ông V được phân cách bởi hàng rào kẽm gai và cọc sắt đã bị hoen cũ nên ngã về phía đất của bà với kích thước rộng 0,3m và dài 25m. Khi xây nhà bà muốn dựng thẳng hàng rào lên để xây đúng phần đất của bà nhưng ông V không đồng ý và có lời qua tiếng lại. Vì lúc đó chồng bà mới qua đời nên bà không muốn tranh chấp và xây nhà cho xong. Những năm sau đó bà có thông báo cho gia đình ông V để giải quyết tranh chấp nhưng gia đình ông V không hợp tác để thực hiện việc trả lại đất cho bà. Sự việc đã kéo dài từ năm 2019 đến nay, ông V có liên hệ với gia đình bà để ký xác nhận đất lân cận để ông làm giấy tờ nhà đất nhưng bà không đồng ý và yêu cầu ông V phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm của bà. Đất của bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và từ đó đến nay bà vẫn thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì diện tích đất nhà bà bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp. Do đó, bà đề nghị Toà án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V và buộc ông V trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 2,25 m² với tứ cận phía Đông giáp đất ông V, dài 19,49m; phía Tây giáp đất bà, dài 19,49m; phía Nam giáp đất của cả hai bên có kích thước bằng 0m; phía Bắc giáp nhà trọ ông Vũ D 0,23m;
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ H trình bày:
Toàn bộ thửa đất gia đình ông Cao Hoàng V nhận chuyển nhượng từ năm 1988 và sử dụng đến nay. Phần đất đang tranh chấp với bà M là tài sản riêng của ông V có trước khi kết hôn và không sáp nhập vào tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà H không liên quan đến quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản đang tranh chấp này. Bà Trần Thị Mỹ H thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao Hoàng V và không có ý kiến gì thêm.
* Với những nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DSST ngày 12 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 163, 166, 175 và 190 Bộ luật Dân sự; các điều 12, 100, 202 và 203 Luật Đất đai; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Hoàng V. Ông Cao Hoàng V có quyền sử dụng đối với diện tích đất 2,25m² tại thửa đất số 52, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Số F đường W, tổ A, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đất được Ủy ban nhân dân tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 397-CN/UB ngày 09/8/1993 cho ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị V1; đến ngày 18/3/2009 đã được chỉnh lý, sang tên cho bà Nguyễn Thị M. Đất có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất ông Cao Hoàng V có chiều dài 19,49 m; phía Tây giáp đất bà Nguyễn Thị M có chiều dài 19,49m; phía Nam giáp đất của cả hai bên có kích thước bằng 0; phía Bắc giáp nhà trọ ông V đang sử dụng xây dựng nhà trọ có kích thước 0,23m. Ông Cao Hoàng V có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp quyền sử dụng đối với diện tích đất này.
Buộc ông Cao Hoàng V phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M giá trị của 2,25m² đất đang tranh chấp là 58.500.000đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền, nghĩa vụ thi hành án; xử lý chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Kháng cáo: Ngày 18/9/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm. Bà không đồng ý giao đất vì phần đất tranh chấp là do nguyên đơn lấn chiếm. Bà yêu cầu ông V phải trả 2,25m² đất, không nhận tiền.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị M trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Các đương sự đều thừa nhận, ông Cao Hoàng V lấn chiếm diện tích 2,25m² tại thửa số 52, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: số F đường W, tổ A, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai của bà Nguyễn Thị M. Phần diện tích này đã được ông Vũ X nhà trọ và đây là một phần công trình xây dựng có kết cấu liền khối của dãy nhà trọ 06 phòng, tường xây gạch, trần thạch cao tấm, mái lợp tole, nền lát gạch ceramic; bên cạnh đó trên đất bà M cũng đã xây dựng căn nhà kiên cố 04 tầng. Việc buộc ông V phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng để trả lại cho bà M diện tích 2,25m² đất sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu của công trình, gây mất an toàn sử dụng đối với toàn bộ dãy nhà trọ, làm lãng phí, thiệt hại về mặt kinh tế và không có khả năng thi hành án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc ông V phải thanh toán lại cho bà M giá trị quyền sử dụng theo giá thị trường tại thời điểm xét xử và giao cho ông V được quyền sử dụng diện tích 2,25m² đất nói trên là phù hợp.
[3]. Bà Nguyễn Thị M kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì khác có thể làm thay đổi bản chất vụ việc nên không được chấp nhận, cần giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm.
[4]. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 000448 ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
||
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Võ Văn Bình |
Trần Văn Thưởng |
Đặng Chí Công |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
Bản án số 125/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 125/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
