Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-PT

Ngày: 05/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trường
Các Thẩm phán: Bà Quách Thị Phương Thúy
Ông Nguyễn Văn Cường
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1 và Vũ Đức T2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo:

  1. Đỗ Xuân T, sinh năm 1976, tại xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương; HKTT và chỗ ở: thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1976 và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1970, tại xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; HKTT và chỗ ở: thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1940 và bà Trần Thị T4 (đã chết); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh

năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 65/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và quyết định của bản án.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  1. Vũ Đức T2, sinh năm 1977, tại xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương; HKTT và chỗ ở: thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đức H1 (đã chết) và bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1939; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Có vợ Nguyễn Thị T5, sinh năm 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày (từ ngày 11/6/2024 đến ngày 14/6/2024), thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Xuân T và Vũ Đức T2: Ông Nguyễn Ngọc H2 và ông Phan Minh T6 - Luật sư Công ty L1 – Đoàn luật sư H5. Có mặt tại phiên tòa.
  • * Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:
    1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1979, HKTT và chỗ ở: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
    2. Ngô Văn B, sinh năm 1987, HKTT và chỗ ở: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  • * Người có nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Nguyễn Danh T7, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương (vắng mặt tại phiên tòa);
    2. Anh Đỗ Văn O, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn H3 là bạn bè với Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Văn C. Do không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định lợi dụng việc mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc hàng ngày của Nhà nước để tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề ngoài Nhà nước để kiếm lời. Các đối tượng đã trao đổi và thống nhất cách thức chơi như sau:

- Vũ Văn H3 và Đỗ Xuân T thống nhất: H3 nhận ghi của người chơi là 19.100đ/01 điểm lô; số đề, lô xiên bằng 73% số tiền người chơi mua lô, đề; số đề (là tổng 2 chữ số cuối của giải đặc biệt) bằng 90% số tiền người chơi mua đề. T nhận ghi của những người chơi là 20.000đ/01 điểm lô; số đề, lô xiên bằng 80% đến 100% số tiền người chơi mua đề, lô. Sau đó H3 và T sẽ chuyển bảng số lô, số đề cho nhau (san bảng), với giá là 19.000đ/01 điểm lô và số đề, lô xiên bằng 72% số tiền người chơi mua lô, đề; riêng số tiền đề (là tổng 2 chữ số cuối của giải đặc biệt) bằng 88% số tiền người chơi mua đề.

- Vũ Văn H3 và Nguyễn Tiến T1 thống nhất: H3 nhận ghi của những người chơi là 19.100đ/01 điểm lô; số đề, lô xiên bằng 73% số tiền người chơi mua lô, đề; số đề (là tổng 2 chữ số cuối của giải đặc biệt) bằng 90% số tiền người chơi mua đề. T1 nhận ghi của những người chơi là 19.100đ/01 điểm lô; số đề bằng 73% số tiền người chơi mua đề, số lô xiên quay bằng 65% số tiền người chơi mua lô. Sau đó, H3 và T1 chuyển bảng số lô, số đề cho nhau (san bảng) với giá là 19.000đ/01 điểm lô; số đề, lô xiên là 72% số tiền người chơi mua đề, lô; số lô xiên quay là 60% số tiền người chơi mua lô.

- Vũ Văn H3 và Nguyễn Văn C thống nhất: Nguyễn Văn C nhận ghi của những người mua số lô (20.000đ/01 điểm lô), số đề, lô xiên, ba càng. Sau đó, C chuyển số lô, số đề cho H3 với giá 19.000đ/ 01 điểm lô; số đề, ba càng là 72% số tiền người chơi mua đề; số lô xiên là 65% số tiền người chơi mua lô.

Đối với các số lô, số đề H3 nhận của T sau đó chuyển cho T1 và nhận của T1 chuyển cho T thì H3 sẽ không hưởng lợi số tiền chênh lệch (H3 chỉ hưởng số tiền chênh lệch nhận từ người chơi khác sau đó chuyển cho T1, T). Đối với các số lô, đề T, T1 nhận của H3 và chuyển cho người khác thì T, T1 cũng không hưởng số tiền chênh lệch. Hàng ngày, sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền B các bị can sẽ chốt số tiền thắng thua, hai bên sẽ không thanh toán tiền với nhau ngay mà khi hai bên có số tiền chênh nhau từ 10.000.000đ trở lên thì sẽ gặp mặt nhau để thanh toán tiền, không thanh toán qua tài khoản ngân hàng.

Cách thức đánh bạc như sau:

Đối với số đề: Đề hai số là 2 số tự nhiên bất kỳ do người mua chọn, số trúng là số trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt và người mua sẽ được trả số tiền gấp 70 lần số tiền mua đề. Đề đầu đít là một số tự nhiên do người mua chọn, nếu số này trùng với hai chữ số đầu tiên hoặc hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua sẽ được trả số tiền gấp 70 lần số tiền mua đề. Đề tổng hai chữ số là một số tự nhiên có hai chữ số bất kỳ, nếu tổng hai chữ số này bằng tổng hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua sẽ được trả số tiền gấp 70 lần số tiền mua đề. Đề ba số (đề ba càng) là 3 số tự nhiên bất kỳ do người mua chọn, số

trúng là số trùng với ba chữ số cuối của giải đặc biệt và người mua sẽ được trả số tiền gấp 400 lần số tiền mua đề.

Đối với số lô: Lô thường là 2 số tự nhiên bất kỳ do người mua chọn, số trúng là số trùng với hai chữ số cuối của bất kỳ giải thưởng nào từ giải đặc biệt cho đến giải bảy và người mua sẽ được trả số tiền gấp 3,5 lần số tiền mua và nhân với số lần trùng của các giải thưởng hoặc được số tiền bằng số điểm lô đã mua nhân 70.000 đồng. Lô xiên hai hoặc ba hoặc bốn là hai hoặc ba hoặc bốn cặp số bất kỳ, mỗi số gồm hai chữ số tự nhiên do người mua chọn, số trúng là số mà hai cặp số đó trùng với hai cặp số cuối của bất kỳ giải thưởng nào từ giải đặc biệt cho đến giải bảy, nếu trúng thì người mua sẽ được trả số tiền gấp 10 lần (với lô xiên hai) hoặc 40 lần (với lô xiên ba) hoặc 100 lần (với lô xiên bốn) số tiền mua lô xiên. Lô xiên quay 3: là 01 bộ số gồm 03 số tự nhiên có 2 chữ số bất kỳ do người mua chọn; bộ số này được tính là 3 bộ lô xiên 2 và 01 bộ lô xiên 3, tổng cộng 04 bộ lô xiên các loại; nếu cả 03 số này đều trùng với hai chữ số của 03 giải bất kỳ trong 27 giải xổ số kiến thiết miền B thì người chơi trúng 01 bộ lô xiên 3 và 03 bộ lô xiên 2, nếu có 02 số này đều trùng với hai chữ số của 02 giải bất kỳ trong 27 giải thì người chơi trúng lô xiên 2. Số tiền người chơi thắng được tính như tỷ lệ đối với lô xiên 3 và lô xiên 2.

Sau khi thống nhất cách thức chơi và cách xác định thắng thua, trong tháng 4/2024, các đối tượng đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc, cụ thể như sau:

* Đối với bị cáo Vũ Văn H3

Ngày 08/4/2024 và 11/4/2024, H3 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S lắp sim số 0355.176.872 và 0356.839.870 để nhận và chuyển số lô, số đề, cụ thể:

  • - Ngày 08/4/2024, Vũ Văn H3 nhận của Nguyễn Văn C 01 cặp lô xiên (68, 88) với số tiền 20.000.000đ (thực tế C chuyển cho H3 số tiền là: 20.000.000₫ x 65% = 13.000.000đ). Sau đó, H3 chuyển cặp lô xiên này cho T và Nguyễn Tiến C1, sinh năm 1974 ở thôn P, xã C, huyện C, trong đó: chuyển cho T cặp lô xiên (68, 88) với số tiền là 3.000.000đ, chuyển cho C1 cặp lô xiên (68, 88) với số tiền là 17.000.000₫ (Thực tế H3 chuyển cho T, C1 tổng số tiền là 20.000.000 đồng x 60% = 12.000.000đ). H3 hưởng lợi số tiền là 1.000.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả sổ xố miền B ngày 08/4/2024 thì cặp lô xiên (68, 88) không trúng. Như vậy, xác định số tiền dùng để đánh bạc là 20.000.000đ.
  • - Ngày 11/4/2024, Vũ Văn H3 nhận số lô, đề như sau:
  • + Nhận của Đỗ Xuân T các số lô, đề gồm: Số lô 88 là 300 điểm; các số đề: 26, 62, 88, mỗi số 200.000đ; 88 là 1.900.000đ; đề ba càng 762, 726, mỗi số 130.000đ; đề ba càng 919, 515 mỗi số 150.000đ. Tổng cộng H3 đã nhận của T là

300 điểm lô, tương đương số tiền là: 5.700.000đ; Số tiền đề là: 3.060.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024, số lô trúng 300 điểm, số tiền trúng là 300 x 70.000đ = 21.000.000đ; đề không trúng số nào. Tổng số tiền đánh bạc trong việc H3 nhận số lô, đề của T là 29.760.000đ.

  • + Nhận của Nguyễn Tiến T1 các số lô: 58, 53 mỗi số 50 điểm, tổng là 100 điểm; 89, 98 mỗi số 100 điểm, tổng là 200 điểm; lô đầu đít 10 là 40 điểm, tổng là 80 điểm; 77 là 20 điểm; 12, 21, 22 mỗi số 10 điểm, tổng là 30 điểm; 80, 85 mỗi số 25 điểm, tổng là 50 điểm; 24 là 40 điểm; 21, 93 mỗi số 20 điểm, tổng là 40 điểm; 25, 52 mỗi số 10 điểm, tổng là 20 điểm; lô đầu đít 01 là 45 điểm, tổng là 90 điểm; 77, 88 mỗi số 25 điểm, tổng là 50 điểm. Tổng cộng H3 đã nhận của T1 720 điểm lô, tương đương số tiền bằng: 13.680.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024, số lô trúng 210 điểm, số tiền trúng là 210 x 70.000đ = 14.700.000đ. Tổng số tiền đánh bạc trong việc H3 nhận số lô của T1 là 28.380.000₫.
  • + Nhận của người tên là P, ở phường T, thành phố H (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 210 điểm lô, tương đương 4.011.000đ; số tiền đề, lô xiên là 450.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền B1 ngày 11/4/2024 thì P trúng số tiền 350.000đ. Tổng số tiền đánh bạc trong việc H3 nhận số lô của P là 4.811.000đ.
  • + Nhận của một số người khác (không xác định được tên, địa chỉ) số tiền lô, đề là 11.665.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền B1 ngày 11/4/2024 thì số tiền trúng lô, đề là 8.400.000đ.

Như vậy, tổng số tiền H3 nhận số lô, đề là 38.566.000đ; số tiền trúng lô, đề là 44.450.000đ. Sau khi nhận số lô, đề, H3 đã chuyển toàn bộ cho Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1 và cho người theo H3 khai là Nguyễn Tiến C1. Tổng số tiền H3 hưởng lợi bất chính là 44.500₫

* Đối với bị cáo Đỗ Xuân T

Ngày 11/4/2024, T sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy S8, lắp sim số 0975.029.655 và tài khoản zalo “Đúng rồi” để nhận và chuyển các số lô, số đề, cụ thể:

  • - Nhận của Vũ Văn H3: các số lô 14, 33, 88, 36, 63 mỗi số 30 điểm, tổng 150 điểm; 58, 53 mỗi số 50 điểm, tổng 100 điểm; 77, 21, 93 mỗi số 20 điểm, tổng 60 điểm; 12, 21, 22, 25, 52 mỗi số 10 điểm, tổng 50 điểm; 80, 85 mỗi số 25 điểm, tổng 50 điểm; 24 là 40 điểm; lô đầu đít 10 là 40 điểm, tổng 80 điểm. Các số đề: Tổng 4 (gồm 10 số: 04, 40, 13, 31, 22, 59, 95, 68, 86, 77), mỗi số 100.000đ; tổng 9 (gồm 10 số: 09, 90, 18, 81, 27, 72, 36, 63, 45, 54), mỗi số 100.000đ; 89, 98, mỗi số 100.000đ. Tổng cộng T nhận của H3 là 530 điểm lô, tương đương số tiền là 19.000₫ x 530= 10.070.000đ; tiền đề tổng 2 chữ số: 2.000.000đ; Tiền đề: 200.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày

11/4/2024 thì số lô trúng 305 điểm, số tiền trúng là 305 x 70.000₫ = 21.350.000đ; đề không trúng số nào. Tổng số tiền đánh bạc trong việc T nhận số lô, đề của H3 là 33.620.000đ. Các bị can chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô đề với nhau.

  • - Nhận số lô, đề của Vũ Đức T2 như sau: Tưởng sử dụng điện thoại OPPO A57 đăng nhập tài khoản zalo “vutuong” đăng ký số điện thoại 0867.438.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “Đúng rồi” của T mua các số lô, đề, lô xiên, gồm: Số lô 10 là 30 điểm; 01 là 50 điểm; lô xiên 4 là 80, 81, 82, 61 với số tiền 300.000đ; lô xiên 2 là 27, 72 với số tiền 200.000đ. Các số đề: 47, 74, 35, 53, 27, 72, 17, 71, 23, 32, 36, 63 mỗi số 50.000đ; 67, 76, 24, 42 mỗi số 100.000đ; 26, 62 mỗi số 250.000đ; 762, 726 mỗi số 100.000đ; 88 là 200.000đ; Đề tổng 4 (gồm 10 số: 04, 40, 13, 31, 22, 95, 59, 86, 68, 77), mỗi số 150.000đ; 29, 92, 69, 96 mỗi số là 50.000đ; Đề đầu 5 (gồm 10 số: 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59) và đầu 6 (gồm 10 số: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69), mỗi số 100.000 đ; Đề đít 2 (gồm 10 số: 02, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92) và đít 3 (gồm 10 số: 03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93), mỗi số là 50.000đ; đề 56, 65, mỗi số 100.000đ. Tổng cộng T đã nhận của T2 80 điểm lô, tương đương số tiền 1.600.000đ; tiền lô xiên, tiền đề là 7.300.000đ. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024 thì Tưởng trúng 30 điểm lô, số tiền trúng là 2.100.000đ; trúng 2 số đề 56, số tiền trúng là 14.000.000đ; tổng số tiền Tưởng trúng là 16.100.000 đồng. Tổng số tiền T2 đánh bạc là 25.000.000đ. T hưởng lợi số tiền là 2.124.000đ. Các bị can chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô, đề với nhau.
  • - Nhận từ người có tên là P1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) sử dụng tài khoản zalo có tên là “Số Phận” 400 điểm lô, tương đương số tiền 8.000.000đ; số tiền đề, lô xiên là 8.100.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024 thì Phường trúng 70 điểm lô, 25.000đ tiền đề, tổng số tiền trúng là 6.650.000đ. Tổng số tiền P1 sử dụng đánh bạc là 22.750.000đ. T hưởng lợi số tiền 1.048.000đ. Thìn chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô, đề với P1.
  • - Nhận của người có tên là T8 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) sử dụng tài khoản zalo có tên là “T V” 405 điểm lô, tương đương số tiền là 8.100.000đ; Số tiền đề, lô xiên là 1.970.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024 thì Trong trúng 170 điểm lô, 20.000đ lô xiên 3, tổng số tiền trúng là 12.700.000đ. Tổng số tiền Trong sử dụng đánh bạc là 22.770.000đ. T hưởng lợi số tiền 562.600đ. Thìn chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô, đề với Trong.

- Nhận ghi trực tiếp số lô, đề của một số người chơi khác (T không biết tên, tuổi của những người này) bằng cách T viết ra tờ giấy các số lô, số đề mà người chơi mua. Sau đó, T chụp lại hình ảnh rồi đưa cáp giấy cho những người này (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền là 29.260.000đ.

Như vậy, tổng số tiền T nhận số lô, đề là 76.600.000đ; số tiền trúng là 56.800.000đ. Tổng số tiền T hưởng lợi bất chính là 4.231.400đ.

Sau khi nhận số lô, đề, T chuyển một phần bảng lô, đề cho H3 với tổng số tiền là 8.760.000đ. Phần còn lại T viết ra tờ giấy rồi chụp ảnh tờ giấy chuyển cho người đàn ông tên N3 có tên tài khoản zalo “Bac ninh” (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với cùng % như chuyển cho H3 để hưởng số tiền chênh lệch của những người chơi; tổng cộng các số lô, đề T chuyển cho người tên N3 là 1.415 điểm lô với số tiền là 26.885.000đ, số tiền đề là 40.955.000đ.

* Đối với bị cáo Nguyễn Tiến T1

Ngày 11/4/2024, T1 sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Pro, lắp sim số 0962.993.132 và tài khoản zalo “Mr:Hai” để nhận các số lô, đề, cụ thể:

  • - Nhận của Vũ Văn H3: các số đề 23, 35 mỗi số 150.000đ; 88 là 100.000đ; 26, 62 mỗi số 200.000đ; 762, 726 mỗi số 130.000đ; 88 là 200.000đ; 07 là 100.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024 thì không có số đề nào trúng. Tổng số tiền đánh bạc trong việc T1 nhận số đề của H3 là 1.360.000đ. Các bị can chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô đề với nhau.
  • - Ngoài ra, Nguyễn Tiến T1 còn nhận số lô, số đề của một số người khác, gồm:
  • + Nhận của người tên là V1 ở Hà Nội (không rõ tên tuổi, địa chỉ), có tên tài khoản zalo là “tren mang” 620 điểm lô, tương đương số tiền là 11.842.000đ; Số tiền đề là 3.780.000đ; số tiền lô xiên quay là 400.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024 thì V1 trúng 160 điểm lô với số tiền 11.200.000 đồng. Tổng số tiền V1 sử dụng đánh bạc là 27.222.000đ. T1 hưởng lợi số tiền: 119.800₫.
  • + Nhận của người tên là T9 ở Bắc Ninh, tên tài khoản zalo là “han Q”(không rõ tên tuổi, địa chỉ) 100 điểm lô, tương đương số tiền 1.910.000đ; số tiền đề là 600.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024, T9 trúng 50 điểm lô với số tiền là 3.500.000 đồng. Tổng số tiền T9 sử dụng đánh bạc là 6.010.000đ. T1 hưởng lợi số tiền 16.000đ.
  • + Nhận của Nguyễn Danh T7, sinh năm 1969, ở thôn P, xã C, huyện C các số đề: 27 là 10.000đ; 72 là 20.000đ; 89 là 20.000đ; 48 là 10.000đ; 77 là 30.000đ. Tổng số tiền là 90.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 11/4/2024, T7 không trúng đề. T1 hưởng lợi số tiền 90.000₫ x 1% = 900đ.

Như vậy, tổng số tiền T1 nhận số lô, đề là 19.982.000đ; số tiền trúng lô là 14.700.000đ; số tiền T1 hưởng lợi bất chính là 136.700đ.

Sau khi nhận số lô, đề, T1 chuyển toàn bộ 720 điểm lô cho H3 và chuyển toàn bộ số đề, lô xiên cho người phụ nữ tên là H4 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với cùng % như chuyển cho H3 để hưởng số tiền chênh lệch, T1 không giữ lại số lô, đề nào. Các đối tượng chỉ chốt số tiền thắng thua, chưa thanh toán tiền lô, đề với nhau.

* Đối với bị cáo Nguyễn Văn C

- Ngày 08/4/2024, Nguyễn Văn C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro 5G, lắp sim 1: 0973.052.539, lắp sim 2: 0559.874.017 nhận ghi số lô, số đề của Ngô Văn B 01 cặp lô xiên (68, 88) với số tiền 20.000.000đ. Sau khi nhận cặp lô xiên của B, C chuyển cặp lô xiên đó cho H3 để hưởng tiền chênh lệch. Sau khi đối chiếu kết quả sổ xố miền B ngày 08/4/2024 thì cặp lô xiên (68, 88) không trúng. Chỉu thu lợi số tiền là 7.000.000đ. Ngô Văn B đã thanh toán xong cho Nguyễn Văn C.

- Ngoài ra, C còn nhận ghi số lô, số đề của Đỗ Văn O, sinh năm 1980 và Nguyễn Văn K, sinh năm 1979, đều ở thôn T, thị trấn L, huyện C, cụ thể:

  • + Ngày 28/3/2024, O mua của C các số đề gồm: 07, 08 mỗi số 50.000đ; 90 là 100.000đ; đề ba càng 207, 208, 209 mỗi số 20.000đ. Tổng số tiền đề là 260.000₫.
  • + Ngày 09/4/2024, K mua của C các số đề gồm: 53, 63 mỗi số 50.000₫, tổng số tiền 100.000đ. Ngày 10/4/2024, K mua của C các số đề 11, 71, 97 mỗi số 50.000đ, tổng số tiền 150.000đ.

Đối với các số đề ghi của O, K. Chỉu trình bày đã chuyển hết cho H3. Tuy nhiên, H3 không thừa nhận đã nhận của C các số đề này.

Ngày 11/4/2024, quần chúng nhân dân xã C, huyện C có đơn tố giác hành vi mua bán số lô, số đề của Vũ Văn H3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành triệu tập Vũ Văn H3 để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H3 thừa nhận hành vi của bản thân và các đối tượng có liên quan, vụ việc được điều tra làm rõ.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C quản lý của Vũ Văn H3 01 điện thoại Iphone 6S, vỏ màu hồng có số Imei 356134094612311, lắp sim số 0356.839.870; quản lý của Đỗ Xuân T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S8+ màu xanh, Imei 355237081699695, lắp sim số 0975.029.655; quản lý của Nguyễn Tiến T1 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro, màu đen có số Imei 353829105266089, lắp sim số 0962.993.132; quản lý của Nguyễn Văn C 01 điện thoại Redmi Note 11 Pro 5G, có số Imei 1 là 867348061394248, lắp sim 1 số 0973.052.539 và số Imei 2 là

867348061394255, lắp sim 2 số 0559.874.017; quản lý của Ngô Văn B 01 điện thoại Iphone Xs màu đen, có số Imei 1 là 357220097660016 và số Imei 2 là 35727009766001, lắp sim số 0968.236.246. Ngày 11/6/2024, quản lý của Vũ Đức T2 01 điện thoại OPPO A57, vỏ màu xanh, có số Imeil là 860974060365116 và số Imei 2 là 860974060365108 và lắp sim số 0867.438.467.

Đối với số tiền 20.000.000₫ B sử dụng để đánh bạc, sau khi không trúng B đã thanh toán cho C. Chỉu chuyển cho H3 13.000.000₫ và hưởng lợi 7.000.000₫, H3 chuyển cho đối tượng khác 12.000.000₫ và hưởng lợi 1.000.000đ. Số tiền này các bị cáo đã chi tiêu hết nên không quản lý được.

Đối với sim số 0356.839.870, H3 sử dụng để nhận và chuyển bảng lô đề, H3 đã tháo vứt đi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không quản lý được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19/9/2024, Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Đức T2.

Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ: Điều 331, Điều 333 của bộ Luật tố tụng hình sự.

Căn cứ: Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

  • - Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
  • - Bị cáo Vũ Đức T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Vũ Đức T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 01 (một) năm 02 (hai) tháng 27 (hai mươi

bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Vũ Văn H3, Nguyễn Văn C và Ngô Văn B, hình phạt bổ sung, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/9/2024, các bị cáo Vũ Văn H3, Nguyễn Tiến T1, Đỗ Xuân T, Vũ Đức T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Trước khi mở phiên tòa bị cáo Vũ Văn H3 có đơn rút toàn bộ đơn kháng cáo, Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo H3.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2 giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người đúng tội;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19/9/2024, Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Xuân T, Vũ Đức T2 trình bày: Bị cáo Đỗ Xuân T, Vũ Đức T2 có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật. Trong giai đoạn điều tra và xét xử sơ thẩm hai bị cáo đều hợp tác và khai báo thành khẩn. Tại bản án sơ thẩm, các bị cáo đã được áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, hai bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật hình sự. Ngoài ra các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình còn có bố mẹ già và con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, bị cáo T2, cho các bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo T, bị cáo T2 nhất trí với trình bày của luật sư. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Trước khi mở phiên tòa bị cáo Vũ Văn H3 rút toàn bộ đơn kháng cáo. Việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Căn cứ khoản 1 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Văn H3. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo của bị cáo H3.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai nhận tội của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo khác trong cùng vụ án cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 08/4/2024, tại thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, Vũ Văn H3 đã sử dụng điện thoại để nhắn tin nhận và chuyển bảng số lô, số đề với Nguyễn Văn C để tổ chức cho Ngô Văn B đánh bạc bằng hình thức mua 01 cặp số lô xiên với số tiền là 20.000.000đ. Chỉu hưởng lợi số tiền 7.000.000đ, H3 hưởng lợi số tiền là 1.000.000đ. Số tiền B sử dụng để đánh bạc là 20.000.000đ.

Ngày 11/4/2024, Vũ Văn H3 cùng với Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1 có hành vi nhận số lô, số đề của Vũ Đức T2 (với số tiền là 25.000.000đ) và một số đối tượng khác (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau đó, H3, T, T1 sử dụng điện thoại để nhắn tin chuyển các số lô, đề cho nhau (để san bảng) và nhắn tin chuyển số lô, số đề cho người tên N3, H4, C1 và một số người khác nhằm thu lợi bất chính. Tổng số tiền H3 nhận số lô, số đề là 38.566.000đ, số tiền trúng là 44.450.000đ, số tiền H3 hưởng lợi bất chính là 44.500đ. Tổng số tiền T nhận số lô, số đề là 76.600.000đ, số tiền trúng là 56.800.000đ, số tiền T hưởng lợi bất chính là 4.231.400đ. Tổng số tiền T1 nhận số lô, số đề là 19.982.000đ, số tiền trúng là 14.700.000đ, số tiền hưởng lợi bất chính là 136.700đ.

Quá trình xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết của vụ án cũng được cấp sơ thẩm cơ bản làm rõ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng theo quy định của pháp luật từ đó áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là cần thiết.

[4]. Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Xuân T: Bị cáo có hành vi nhận số lô, số đề từ bị cáo H3, bị cáo T2 và những người chơi khác (không rõ tên, tuổi địa chỉ) là 76.600.000đ. Sau khi nhận số lô, số đề bị cáo đã thực hiện việc “san bảng”, một phần cho bị cáo H3 số tiền 8.760.000đ, số còn lại bị cáo chuyển cho người đàn ông tên N3 ở Bắc Ninh (không rõ, tên tuổi, địa chỉ) để hưởng số tiền chênh lệch của những người chơi sau khi được thua. Bị cáo đã gián tiếp giúp các bị cáo khác thu lợi bất chính và bị cáo cũng trực tiếp hưởng lợi bất chính số tiền 4.231.400đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hình phạt cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã nộp tiền án phí và tiền phạt nhưng xét thấy hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng tới cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trong xã hội nói chung, trên địa bàn huyện C nói riêng. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo.

[5]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T1: Bị cáo có hành vi nhận số lô, số đề từ bị cáo H3 và những người chơi khác (không rõ tên, tuổi địa chỉ) với số tiền là 19.982.000đ. Bị cáo giữ vai trò tích cực trong việc nhận số lô, số đề của người chơi và thực hiện “san bảng” với bị cáo H3 để cùng nhau hưởng lợi bất chính. Trong thời gian xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp án phí và một phần tiền phạt là 8.200.000đ. Bị cáo có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo không rút kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội lần này với vai trò tích cực, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[6]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo T2: Bị cáo thực hiện hành vi đánh số lô, số đề với bị cáo T với mục đích sát phạt trực tiếp với bị cáo T với số tiền đánh bạc là 25.000.000đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã nộp tiền án phí và tiền phạt là 15.200.000đ nhưng xét thấy hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu đến đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trên địa bàn tỉnh Hải Dương nên cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo.

Trong vụ án này, mặc dù các bị cáo đều có thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nhưng xét thấy tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo và hình phạt tại bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

[8]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.

[9]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2, giữ nguyên hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đức T2.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt chính:
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Đức T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 01 (một) năm 02 (hai) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2024).
  3. Xác nhận:
    • 3.1. Bị cáo Vũ Văn H3 đã nộp 25.000.000đ (Hai lăm triệu đồng) tiền phạt và 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng) tiền truy thu theo biên lai thu tiền số 0000148 ngày 22/11/2024 cùng 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0000145 ngày 13/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng;
    • 3.2. Bị cáo Đỗ Xuân T đã nộp 25.000.000₫ (Hai lăm triệu đồng) tiền phạt và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu thu tiền số 0000138 ngày 08/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng;
    • 3.3. Bị cáo Nguyễn Tiến T1 đã nộp 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền phạt và 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000146 ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng; Bị cáo T1 còn phải nộp 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) tiền phạt nộp ngân sách Nhà nước.
    • 3.4. Bị cáo Vũ Đức T2 đã nộp đã nộp 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) tiền phạt và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000143 ngày 11/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng;
    • 4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Tiến T1, Vũ Đức T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

5. Bắt tạm giam các bị cáo tại phiên tòa để bảo thi hành án.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 05/12/2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - Trại giam công an tỉnh Hải Dương
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Cẩm Giàng (04 bản);
  • - VKSND, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;
  • - CQCSĐT, CQHSNV, CQTHAHS Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP, lưu Tòa HC, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 125/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Xuân Thìn và đp tổ chức đánh bạc, đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger