|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/11/2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh;
2/ Bà Cao Thị Kim Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 381/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T – Sinh năm 1970 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Tiêu Đình H – Sinh năm 1968 (vắng mặt, không có lý do).
Cùng địa chỉ: Thôn 5, xã HLiêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01/10/2024, bản khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Tiêu Đình H cưới nhau vào khoảng năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Liêm theo Giấy chứng nhận kết hôn số 656 ngày 22/6/1989. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện tìm hiểu trong thời gian 01 năm. Sau khi cưới vợ chồng bà sống ở thôn 5, xã Hàm Liêm. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi cưới đến khoảng 30 năm thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông H thường xuyên uống bia rượu bà có khuyên can nhưng ông H không từ bỏ mà còn chửi mắng bà. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng năm 2021 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Tiêu Đình H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Tiêu Đình Tuấn K – Sinh năm 1991; Tiêu Thị Trúc P – Sinh ngày 20/10/1994 và Tiêu Thị Trúc B – Sinh năm 1999. Hiện nay các con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra, do ông Tiêu Đình H vắng mặt nên bà yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Tiêu Đình H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn, đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 5, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, đã có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 14/10/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Tiêu Đình H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Tiêu Đình H tổ chức lễ cưới vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Liêm theo Giấy chứng nhận kết hôn số 656 ngày 22/6/1989. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà Nguyễn Thị T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 30 năm thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông H thường xuyên uống bia rượu bà có khuyên can nhưng ông H không từ bỏ mà còn chửi mắng bà. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng năm 2021 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Tiêu Đình H.
Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Tiêu Đình H nhưng ông Tiêu Đình H cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Tiêu Đình H thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Tiêu Đình H có 03 con chung tên Tiêu Đình Tuấn K – Sinh năm 1991; Tiêu Thị Trúc P– Sinh ngày 20/10/1994 và Tiêu Thị Trúc B – Sinh năm 1999. Hiện nay các con đã trưởng thành bà Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Ông Tiêu Đình H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Tiêu Đình H.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013695 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.
Ông Tiêu Đình H không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
