Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 10 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: bà Mai Tường Vi và bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024; tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST - HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến H; tên gọi khác: không;

Sinh ngày 18/5/1982, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh

Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh

Nơi ở hiện tại: tổ E, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên Hợp đồng Công ty TNHH T1 – bị xa thải ngày 30/12/2023; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Tiến L và bà Nguyễn Thị S; vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1983; có hai con; lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 10/5/2024, hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

*Bị hại: Công ty cổ phần B; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân S1, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: khu E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện tại: tổ G, khu G, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Thu mua sắt vụn; Vắng mặt.

2. anh Phạm Văn Q, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, Quảng Ninh. Nghề ngiệp: Thu mua sắt vụn; Vắng mặt.

3. chị Đào Thị N1, sinh năm: 1983; nơi cư trú: tổ E, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng: anh Phạm Văn D, anh Phạm Đức V, bà Lý Thị P, chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Lý Hùng A, chị Vũ Thị Mỹ L1, chị Lê Thị H1 (người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn tiến H là nhân viên hợp đồng thuộc Công ty TNHH T1 phí tự động VETC. Quá trình làm việc tại trạm thu phí quốc lộ A1, thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C, H thấy một số vật tư cũ gồm: cột biển báo bằng sắt và tấm thép cũ của Công ty cổ phần B (viết tắt: Công ty B) để ở sân của trụ sở Công ty không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trong các ngày 08, 09 và ngày 20/12/2023 H đã trộm cắp tài sản đem bán, cụ thể:

Ngày 08/12/2023 H đến gặp ông Phạm Ngọc T (người thu mua sắt vụn) trú tại tổ C, khu T, phường C, thành phố C bảo ông T khoảng 23 giờ đến sân Công ty B để H bán sắt vụn cho ông T, ông T cùng con trai là Phạm Đức V đi xe máy kéo theo 01 cải xe cải tiến đến nơi hẹn; H đã trộm cắp và bán cho ông T 01 tấm thép. Ngày hôm sau ông T đem bán cho anh Phạm Văn Q cân được 165 kg với giá 8000 đồng/kg = 1.320.000 đồng.

Khoảng 23 giờ ngày 09/12/2023 H tiếp tục trộm cắp của Công ty B 02 tấm thép rồi bán cho ông T nhưng chưa lấy tiền, lần này ông T đi cùng hai con trai là anh V và Phạm Văn D đến mua; ba người khênh lên xe chở về nhà, hôm sau ông T bán cho anh Q cân được 330 kg = 2.640.000 đồng. 03 Tấm thép này anh Q đã chở đến Công ty T2 tại tỉnh Hưng Yên bán nên không thu hồi được.

Ngày 20/12/2023 H gặp bảo bán ống kẽm cho ông T, khi đến nơi ông T thấy ống kẽm sơn màu đỏ trắng đoán là ống dùng làm biển báo giao thông nên không mua nhưng H vẫn nhờ ông T chở 06 ống kẽm về nhà ông T để gửi. Đồng thời ông T trả cho H 3.500.000 đồng của 03 tấm thép mua hôm trước. Ngày hôm sau ông Nguyễn Xuân S1 là người được phân công quản lý tài sản phát hiện tài sản bị trộm cắp đã rà soát camera an ninh biết H trộm cắp nên đã trình báo Công an. Ngày 23/12/2023 H nhờ ông T chở trả lại 06 ống kẽm, còn chị Nguyễn Thị N (vợ H) khi biết H trộm cắp nên đã thay H mua 03 tấm thép mới bồi thường trả cho Công ty B.

Vật chứng thu giữ: gồm 06 ống kẽm phi 80 mm, dài lần lượt là 4,6m, 4,0m, 3,6m, 3,9m, 3,0m, 2,5m của Công ty B; 03 tấm thép kích thước (6x1,5x0,012)m của chị N bồi thường cho Công ty B. Cơ quan Điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản cho Công ty B.

Bản Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTX ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 03 Tấm thép bị cáo chiếm đoạt có giá 35.612.229 đồng (ba mươi lăm triệu sáu trăm mười hai nghìn hai trăm hai mươi chín đồng). 06 Ống kẽm Công ty B mua chống bão không cung cấp được tài liệu chứng minh nguồn gốc nên không đủ cơ sở để định giá.

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tiến H đều khai nhận làm nhân viên hợp đồng thu phí. Ngày 08, 09 và ngày 20/12/2023 bị cáo làm việc tại trạm thu phí do có nhu cầu chi tiêu nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo hẹn ông T đến Công ty B thuộc phường C để bán sắt vụn lấy tiền. Đến 23 giờ ngày 08/12/2023 ông T cùng con trai đến kéo theo 01 xe cải tiến bị cáo trộm cắp bán cho ông T 01 tấm thép; Đến khoảng 23 giờ ngày 09/12/2023 bị cáo tiếp tục trộm cắp 02 tấm thép bán cho ông T, bị cáo cùng con ông T là anh V và anh D khênh lên xe cải tiến để ông T chở về nhà, đến ngày 20/12/2023 bị cáo bán 06 ống kẽm cho ông T nhưng ông T không mua, bị cáo nhờ ông T chở 06 ống kẽm về gửi nhà ông T, bị cáo được ông T trả số tiền 3.500.000 đồng bán 03 tấm thép. Khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã đem 06 ống kẽm trả lại cho Công ty B1, vợ bị cáo là Nguyễn Thị N đã lấy tài sản của vợ chồng mua 03 tấm thép mới bồi thường trả cho Công ty B. Số tiền do bán tài sản trộm cắp bị cáo đã ăn tiêu hết.

Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Xuân S1 trình bày tại phiên tòa: Ngày 21/12/2023 nghi vấn có trộm cắp tài sản Công ty B cho kiểm tra camera giám sát, phát hiện Nguyễn Tiến H trộm cắp tài sản, Công ty B đã được vợ của bị cáo bồi thường hoàn trả 03 tấm thép mới và nhận đủ 06 ống kẽm bị mất, nay Công ty không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Ông Phạm Ngọc T, anh Phạm Văn Q đều trình bày là người thu mua sắt vụn, ông T mua 03 tấm thép do H bán, anh Phạm Văn Q mua 03 tấm thép từ ông T đem bán cho Công ty T2 tại tỉnh Hưng Yên, chị Đào Thị Nguyên K nhận là vợ của bị cáo H, khi được nghe biết H trộm cắp tài sản, chị N đã dùng tài sản của vợ chồng mua 03 tấm thép mới bồi thường trả cho Công ty B, nay không ai có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Ngoài ra vật chứng bị thu giữ gồm 06 ống kẽm đã được trả lại cho Công ty B phù hợp với lời khai của bị cáo và tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 2450/CT-VKSCP ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 (3 tình tiết) Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Tiến H từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Phần dân sự trong vụ án: bị cáo đã trả lại Công ty B gồm 06 ống kẽm, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường trả cho Công ty B 03 tấm thép mới, nay Công ty B và chị Đào Thị N1 đều không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Tại phiên tòa: bị cáo Nguyễn Tiến H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến H đều khai nhận trong các ngày 08, 09, 20 tháng 12 năm 2023 Nguyễn Tiến H đã nhiều lần vào sân của Công ty cổ phần B thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trộm cắp 03 tấm thép và 06 ống kẽm đã cũ đem bán. Tổng giá trị là 35.612.229 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo của Công ty B, phù hợp với kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTX ngày 06/5/2024, lời khai của người có quyền lợi liên quan ông Phạm Ngọc T, anh Phạm Văn Q, chị Nguyễn Thị N, lời khai người làm chứng anh Phạm Văn V1, Phạm Văn D, bà Lý Thị P, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, Quyết định xử lý vật chứng, biên bản trả tài sản cho chủ sở hữu cùng nhiều tài liệu, chứng cứ khác.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: Trong các ngày 08, 09, 20 tháng 12 năm 2023 Nguyễn Tiến H đã nhiều lần vào sân của Công ty cổ phần B thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trộm cắp 03 tấm thép và 06 ống kẽm đem bán. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 35.612.229 đồng.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vậy việc truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 2450/CT-VKSCP ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.

Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương; bị cáo Nguyễn Tiến H do tham lam tư lợi nên đã phạm tội, trong ngày 08, 09 và ngày 20/12/2023 bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của Công ty cổ phần B nên đã trộm cắp tài sản của họ bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân, bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần xử lý nghiêm.

Song cũng cần xét sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm pháp tỏ ra hối cải, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bên bị hại, tại phiên tòa bên bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra sau khi xuất ngũ trở về địa phương tham gia công tác bị cáo còn được tặng thưởng giấy khen nên xét giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ Luật hình sự.

[3] Phần dân sự trong vụ án: Công ty B đã được bị cáo cùng gia đình bồi thường hoàn trả đủ tài sản bị mất, nay không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không đề cập.

Số tiền 3.500.000 đồng do phạm pháp mà có bị cáo đã ăn tiêu hết, song bị cáo đã cùng gia đình bồi thường đủ cho Công ty B nên không đề cập.

Ông Phạm Ngọc T, anh Phạm Văn Q là người thu mua 03 tấm kẽm do H trộm cắp, anh Phạm Văn V1, anh Phạm Văn D cùng ông T vận chuyển tài sản, bà Lý Thị P vợ ông T biết việc ông T mua tài sản nhưng tất cả những người này đều không biết là tài sản do phạm pháp mà có, 03 tấm kẽm được anh Phạm Văn Q bán cho Công ty T2 tại tỉnh Hưng Yên không thu hồi được nên không đề cập.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

[5] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Tiến H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến H cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án Nguyễn Tiến H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Nguyễn Tiến H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo và đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - CQCSĐT CA thành phố Cẩm Phả;
  • - CQTHA HS thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả ;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi
  • nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS; Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger