|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/DS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân
quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2024/QĐXXST-DS ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1983, Địa chỉ: Phòng C, Chung cư B, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Túc Xuân H, sinh năm 1987; Địa chỉ: B T, tổ A, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Minh H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Phòng C, Chung cư B, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Bà Nguyễn Túc Xuân H là đồng nghiệp với vợ tôi, bà H có trình bày với vợ tôi bà đang cần tiền để thanh toán mua căn hộ cho em trai tại thành phố Hồ Chí Minh. Do tiền của em trai đang bị kẹt nên hỏi vay để xử lý nếu không kịp sẽ bị mất cọc. Bà hỏi năng ni vợ tôi nhiều lần cho bà mượn trong vòng 01 tháng. Vì bà nài nỉ nhiều lần nên vợ tôi có nói tôi cho bà mượn để xử lý. Vì là đồng nghiệp cũng e ngại nên vợ tôi nói giới thiệu người cho bà vay và bà H đồng ý, nhưng thực chất là tiền của vợ chồng tôi.
Vì vậy, vào ngày 03/11/2023 tôi có dẫn ông Huỳnh Minh H1(“gọi tắt ông H1") sinh ngày 02/06/1984. CCCD: [...] do Cục C về TTXH cấp đến địa chỉ:A T, quận H, thành phố Đà Nẵng gặp và giới thiệu ông H1 là người cho bà vay. Tại đây, bà H đã viết giấy vay tiền với số tiền: 200.000.000 đồng trong vòng một tháng với lãi suất 12%/năm và tôi là người làm chứng. (Theo giấy vay tiền ngày 03/11/2023). Tiếp đến ngày 8/11/2023 bà H chưa lấy được nợ với người ta nên bà H còn thiếu 200.000.000 đồng nữa mà ngày 9/11/2023 là hết hạn thanh toán nên bà H tiếp tục xin cho bà vay thêm 200.000.000 đồng nữa đến ngày 03/12/2024 bà trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi. Vì cũng tin tưởng bà nên tôi lại dẫn ông H1 đến A T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, bà H tiếp tục viết giấy vay tiền với số tiền: 200.000.000 đồng trong vòng một tháng với lãi suất 12%/năm. Như vậy tổng số tiền bà H đã vay của tôi vào ngày 3/11/2023 và ngày 8/11/2023 là 400.000.000 đồng và hẹn đến ngày 03/12/2023 bà trả hết gốc và lãi cho tôi. Tuy nhiên, đến ngày 03/12/2023 tôi đã gọi và bà H xin tôi thư thư cho bà ít hôm để bà xử lý mong tôi thông cảm. Thiết nghĩ bà cũng đang kẹt nên tôi cũng không hỏi nhiều. Thế nhưng sau đó nhiều ngày tôi gọi điện thoại để đòi thì bà tắt máy, qua tìm hiểu thì bà H cũng không đến cơ quan làm việc.
Việc Bà Nguyễn Túc Xuân H không trả nợ đã gây cho tôi nhiều khó khăn thiệt hại về kinh tế và tinh thần. Do vậy tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xem xét và giải quyết theo yêu cầu của tôi như sau: Yêu cầu bà Nguyễn Túc Xuân H trả nợ cho tôi số tiền gốc là: 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
* Tại Bản tự khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1 có ý kiến như sau:
Tôi là bạn của ông Nguyễn Minh T. Vào năm 2023, ông T có nhờ tôi nhận là người cho vay tiền đối với bà Nguyễn Túc Xuân H và tôi đồng ý. Cụ thể vào ngày 03/11/2023, ông T cho bà H vay số tiền 200.000.000 đồng; ông T thực hiện chuyển khoản 180.000.000 đồng và giao tiền mặt 20.000.000 đồng. Ngày 08/11/2023, bà H tiếp tục vay của ông T số tiền 200.000.000 đồng; ông T cũng thực hiện chuyển khoản 180.000.000 đồng và giao tiền mặt 20.000.000 đồng. Thời hạn vay là một tháng với lãi suất thỏa thuận là 12%/năm. Bản thân tôi là người đứng phía bên cho vay nhưng thực chất toàn bộ số tiền này là của ông Nguyễn Minh T cho bà Nguyễn Túc Xuân H vay. Nay ông T khởi kiện bà H yêu cầu trả lại toàn bộ số tiền đã vay 400.000.000 đồng thì tôi cam đoan lời khai của ông T và tôi là đúng, tôi không liên quan gì đối với khoản tiền ông T cho bà H vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Túc Xuân H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Minh T cho bà Nguyễn Túc Xuân H vay 02 lần tiền với tổng số tiền 400.000.000 đồng; cụ thể ngày 03/11/2023 cho vay 200.000.000 đồng, ngày 08/11/2023 cho vay 200.000.000 đồng. Số tiền cho vay ông T chuyển khoản vào tài khoản của bà H 360.000.000 đồng và giao tiền mặt 40.000.000 đồng. Ông Nguyễn Minh T đã nhờ ông Huỳnh Minh H1 đứng ra làm người cho vay trong 02 Giấy vay tiền ngày 03/11/2023 và ngày 08/11/2023.
Quá trình vay tiền bà H chưa trả cho ông T nên tại phiên tòa ông T xác định số tiền bà H còn nợ ông số tiền 400.000.000 đồng và ông T không yêu cầu tính lãi.
Ông Huỳnh Minh H1 xác nhận ông là người đứng tên người cho vay trong 02 Giấy vay tiền ngày 03/11/2023 và ngày 08/11/2023 nhưng thực chất người cho vay và toàn bộ khoản tiền cho bà H vay là của ông Nguyễn Minh T, ông H1 không liên quan gì đến khoản tiền này.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Ông Nguyễn Minh T cung cấp cho Tòa án 02 Giấy vay tiền ngày 03/11/2023 và ngày 08/11/2023 và lời khai xác nhận của ông Huỳnh Minh H1 thể hiện ông T đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho bà H vay tổng số tiền 400.000.000 đồng. Kể từ thời điểm vay tiền, ông T đã nhiều lần yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H vẫn không trả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà H các văn bản tố tụng nhưng bà H vẫn không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia hòa giải tại Tòa án. HĐXX nhận định bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với ông T theo quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T cần được chấp nhận.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – bà Nguyễn Túc Xuân H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 400.000.000 đồng x 5% ~ 20.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T đối với bà Nguyễn Túc Xuân H.
Buộc bà Nguyễn Túc Xuân H phải trả cho ông Nguyễn Minh T số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Án phí và chi phí tố tụng khác:
Án phí Dân sự sơ thẩm: 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng), bà Nguyễn Túc Xuân H phải chịu.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Minh T số tiền tạm ứng án phí 10.620.000₫ (Mười triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004264 ngày 05/7/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 125/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
