|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:125/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-9-2024
V/v tranh chấp yêu cầu
ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
- Những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán: Ông Kiều Song T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn và chị Cao Thị Mỹ Phượng;
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mộng Đẹp, Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:382/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc "tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con và chia tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:121/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Diễm P, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu;
- Bị đơn: Anh Phan Giang N, sinh năm 1987 (có mặt);
Địa chỉ: khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Ngọc T1 thuộc văn phòng L và cộng sự thuộc đoàn Luật sư tỉnh B; (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Phạm Diễm P trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phan Giang N chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G (nay là phường A), thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống do anh N không chung thủy trong đời sống vợ chồng có quan hệ như vợ chồng với người phụ nữ khác từ đó phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn;
Về con chung: Vợ chồng có với nhau 02 người con chung tên Phan Phúc N1, sinh ngày 23/7/2018 và Phan Phước N2, sinh ngày 14/7/2021 hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi các con và yêu cầu anh N cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Về tài sản và nợ: Chị P rút lại yêu cầu chia tài, vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ngoài ra chị không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
- Bị đơn anh Phan Giang N trình bày:
Về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn chị P trình bày là đúng, tuy nhiên về nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn là chưa đúng, trước đây anh có quan hệ bạn bè với người phụ nữ bên ngoài, tuy nhiên sự việc đã được chấm dứt, hiện anh mong muốn được đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có với nhau 02 người con chung tên Phan Phúc N1, sinh ngày 23/7/2018 và Phan Phước N2, sinh ngày 14/7/2021. Hiện các con vẫn chung sống với vợ chồng. Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi các con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Luật sư Phan Ngọc T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Mâu thuẫn của vợ chồng là trầm trọng, nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn là do anh N không chung thủy, tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Về con chung: Chị P là người trực tiếp chăm sóc các con chung từ nhỏ. Hiện nay công việc của chị P là tại nhà nên có nhiều thời gian chăm sóc con, hiện tại thu nhập của chị P từ nhiều nguồn khác nhau đảm bảo được cuộc sống cho các con chung. Anh N là cán bộ tín dụng của Ngân hàng nên phải thường xuyên đi công tác, hiện tại đơn vị công tác xa nhà nên không thuận tiện việc nuôi con, vì vậy yêu cầu nuôi con của chị P là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; về tài sản trước đây khi khởi kiện chị P có yêu cầu chia, tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa chị P rút lại yêu cầu để tự thỏa thuận, trường hợp không tự thỏa thuận sẽ yêu cầu thành vụ kiện khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Diễm P, về hôn nhân chị P được ly hôn với anh N; Về con chung: Giao các con cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định; Về tài sản tại phiên tòa chị P rút yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ về yêu cầu chia tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Diễm P yêu cầu ly hôn với anh Phan Giang N, hiện tại anh N cư trú tại khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về rút yêu cầu chia tài sản của chị Phạm Diễm P, hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị P trên tinh thần tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên căn cứ Điều 5 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ phần yêu cầu về tài sản của chị P.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Giấy đăng ký kết hôn số 144, ngày 17/12/2014, của Ủy ban nhân dân thị trấn G (nay là phường A), thị xã G, tỉnh Bạc Liêu cấp thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Diễm P và anh Phan Giang N là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, nguyên nhân do anh N không chung thủy trong đời sống vợ chồng nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh N để mọi người tạo dựng cuộc sống riêng.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của chị P là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ theo lời trình bày của chị P thì mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ rất lâu, nguyên nhân là do anh N không chung thủy, chị P trực tiếp phát hiện anh N và người phụ nữ khác trong nhà trọ Kim D thuộc ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, sự việc được công an thị trấn H lập biên bản ngày 02/5/2024. Từ đó vợ chồng sống ly thân, điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cuộc
sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Anh N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, còn có khã năng hàn gắng, tuy nhiên trong suốt quá trình ly thân và trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay anh N không tìm ra được biện pháp hàn gắng để vợ chồng đoàn tụ, điều này cho thấy nguyện vọng đoàn tụ của anh N không có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị P và anh N xác nhận vợ chồng có với nhau 02 người con chung tên Phan Phúc N1, sinh ngày 23/7/2018 và Phan Phước N2, sinh ngày 14/7/2021. Khi ly hôn vợ chồng cùng có nguyện vọng nuôi con.
HĐXX xét thấy từ trước đến nay chị P là người trực tiếp chăm sóc các con chung, hiện tại công việc của chị P là hoạt động tại nhà nên có thời gian chăm sóc các con, đối với anh N do đặc thù công việc phải đi làm xa nên thời gian chăm sóc các con có phần hạn chế so với chị P. Để tránh xáo trộn cuộc sống các con chung cần thiết giao các con chung cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Trong vụ kiện này chị P là người trực tiếp nuôi con nền cần buộc anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Mức cấp dưỡng nuôi con cụ thể mỗi tháng là 1.930.000đ cho mỗi người con chung. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
[3.4] Về tài sản chung: Chị P rút yêu cầu chia tài sản nên Hội đồng xét xử đình chỉ. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản thì được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.
Về nợ chung: Chị P và anh N không yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản thì được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.
[3.5] Về án phí: Chị Phạm Diễm P phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về án phí cấp dưỡng nuôi con anh N nộp 300.000đ.
Với phân tích trên xét thất ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên và Luật sư về toàn bộ vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; khoản 2 Điều 244; điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Diễm P với anh Phan Giang N.
Chị Phạm Diễm P được ly hôn với anh Phan Giang N. Giấy chứng nhận kết hôn số 144, ngày 17/12/2014 do Ủy ban nhân dân thị trấn G (nay là phường A), thị xã G, tỉnh Bạc Liêu cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao 02 người con: Phan Phúc N1, sinh ngày 23/7/2018 và Phan Phước N2, sinh ngày 14/7/2021 cho chị Phạm Diễm P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phan Giang N có quyền và nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.
Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Phan Giang N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 người con là Phan Phúc N1, sinh ngày 23/7/2018 và Phan Phước N2, sinh ngày 14/7/2021 mỗi tháng cho mỗi con với số tiền 1.930.000đ (một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thi hành ngay.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản của chị Phạm Diễm P với anh Phan Giang N.
Dành quyền khởi kiện cho chị Phạm Diễm P và anh Phan Giang N bằng một vụ án khác, trường hợp anh, chị có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Phạm Diễm P chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị P đã dự nộp theo biên lai thu số 0008950, ngày 26/6/2024. Anh Phan Giang N nộp áp phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đ.
H lại cho chị Phạm Diễm P số tiền dự nộp án phí chia tài sản 56.950.000đ theo biên lai thu số 0008951, ngày 26/6/2024.
Các đương sự nhận và nộp án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu;
6/ Quyền kháng cáo: Chị Phạm Diễm P và anh Phan Giang N có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Song Toàn |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Diễm Phượng yêu cầu ly hôn với Phan Giang Nam
