|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/DS-ST Ngày: 24/9/2024 V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời
Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 419/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H1;
Địa chỉ trụ sở: Số E đường N, L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP H1;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng quản lý tín dụng - Ngân hàng TMCP H1;
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
- Ông Lê Thành Đ - Chức vụ: Chuyên viên Tố tụng;
- Ông Võ Đình H - Chức vụ: Chuyên viên;
(Theo Giấy ủy quyền số 5282/2023/UQ-TGD912 ngày 14/6/2023); Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn:
- Bà Võ Thị Tường V, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Số A đường H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Trần Thanh B, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Số A N, tổ F N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
- Ngày 25 tháng 12 năm 2021 Ngân hàng TMCP H1 - Chi nhánh K - Phòng G đã ký kết với bà Võ Thị Tường V Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05551/HĐTD/2021/HĐTCHM/RB/476472 với các nội dung: Hạn mức thấu chi: 200.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức thấu chi: 12 tháng kể từ ngày 25/12/2021 đến ngày 25/12/2022; Mục đích vay: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân; Lãi suất: 16%/năm, tính trên dự nợ gốc giảm dần.
- Ngày 10 tháng 01 năm 2022 Ngân hàng TMCP H1 - Chi nhánh K - Phòng G đã ký kết với bà Võ Thị Tường V Hợp đồng cho vay số: 00108/2022/HĐCV/RB/476472 với các nội dung: Số tiền vay: 370.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất: 9.1%/năm, tính trên dư nợ thực tế giảm dần; Mục đích sử dụng vốn vay: Cho vay mua xe oto Hyundai Accent 1.4AT đặc biệt 2021. Để đảm bảo khoản vay này, bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B đã dùng tài sản của mình để thế chấp tại MSB, theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 00108/2022/BĐ-NT ngày 10/01/2022 tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô có thông tin cụ thể: Xe ôtô con 5 chỗ ngồi hiệu Hyundai Accent 1.4 AT HGS PE, màu đen, xuất xứ: Việt Nam, nhãn hiệu: HYUNDAI ACCENT, số máy: G4LCMG041957, số khung: RLUA841BBMN070539, biển số: 79A-368.29 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 79008976 do Phòng CSGT Công an tỉnh K cấp ngày 09/01/2022.
- Ngày 25 tháng 12 năm 2021 và ngày 10 tháng 01 năm 2022 tại M - Chi nhánh K - phòng G, bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B đã có văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ các khoản vay nói trên cho MSB.
-
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng đã ký kết. Mặc dù MSB đã đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bà Tường V và ông Thanh B vẫn cố tình chây ỳ, không trả nợ cho M. Dư nợ khoản vay của bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B tại Ngân hàng TMCP H1 tạm tính đến ngày 20/6/2024 chi tiết như sau:
- Hợp đồng cho vay số: 00108/2022/HĐCV/RB/476472 ngày 10/01/2022: Nợ gốc là 365.595.238đ, nợ lãi là 87.678.340đ, nợ lãi quá hạn là 7.959.236đ; Tổng cộng là 461.232.814 đồng.
- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05551/HĐTD/2021/HĐTCHM/RB/476472 ngày 25/12/2021: Nợ gốc là 200.000.000đ, nợ lãi là 27.542.651đ, nợ lãi quá hạn là 54.353.425đ; Tổng cộng là 281.896.076 đồng.
Tổng nợ của 02 hợp đồng vay nói trên là 743.128.890 đồng (Bảy trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi tám ngàn tám trăm chín mươi đồng).
Ngân hàng TMCP H1 đề nghị Q1 tòa xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền 743.128.890 đồng (Bảy trăm bốn mươi ba triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi đồng), trong đó: nợ gốc là: 565.595.238 đồng, nợ lãi là 115.220.991 đồng, nợ lãi quá hạn là 62.312.661 đồng. Tạm tính đến ngày 20/6/2024. Kể từ ngày 21/6/2024, bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay, Giấy nhận nợ và các văn bản đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B không trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là: Xe ôtô con 5 chỗ ngồi hiệu Hyundai Accent 1.4 AT HGS PE, màu đen, xuất xứ: Việt Nam, nhãn hiệu: HYUNDAI ACCENT, số máy: G4LCMG041957, số khung: RLUA841BBMN070539, biển số: 79A-368.29 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 79008976 do Phòng CSGT Công an tỉnh K cấp ngày 09/1/2022 của bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Yêu cầu bị đơn phải chịu toàn bộ án phí.
* Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B, yêu cầu các bị đơn có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để cung cấp tài liệu, chứng cứ, trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, bà V và ông B vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa:
- Các đương sự vắng mặt.
- Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án;
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H1; Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 (Sau đây viết tắt là M) với bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B (Đều có nơi cư trú tại thành phố N), thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Theo các tài liệu do nguyên đơn MSB cung cấp gồm: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận kết hôn của bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B; Các Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ, Hợp đồng thế chấp tài sản; Biên bản xác minh đề ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tại Công an phường N và Công an phường P, thành phố N... đều thể hiện ông Trần Thanh B có địa chỉ thường trú tại: Số A N, tổ F N, phường N, thành phố N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Bà Võ Thị Tường V có địa chỉ thường trú tại: Số A đường H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn MSB đã cung cấp đầy đủ và chính xác địa chỉ của các bị đơn. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông B, bà V theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.3] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Võ Thị Tường V và ông Trần Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: MSB - Chi nhánh K - Phòng G đã ký kết với bà Võ Thị Tường V 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể: (i) Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05551/HĐTD/2021/HĐTCHM/RB/476472 ngày 25/12/2021, với hạn mức thấu chi: 200.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức thấu chi: 12 tháng (Từ ngày 25/12/2021 đến ngày 25/12/2022); Lãi suất: 16%/năm, tính trên dự nợ gốc giảm dần. (ii) Hợp đồng cho vay số: 00108/2022/HĐCV/RB/476472 ngày 10/01/2022, với số tiền vay: 370.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất: 9.1%/năm, tính trên dư nợ thực tế giảm dần.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2022, bên vay là bà Võ Thị Tường V và chồng của người vay là ông Tranh Thanh B1 đã ký Văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng.
Thực hiện hợp đồng, M - Chi nhánh K - Phòng G đã cấp hạn múc thấu chi với số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Đồng thời giải ngân số tiền: 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) cho bà Tường V, theo giấy nhận nợ lần thứ 01, ngày 11 tháng 01 năm 2022.
Quá trình vay, ông B1 và bà V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 4.404.762 đồng; Đến ngày 07/02/2022, ông B1 và bà V vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn. Như vậy, tính đến ngày 20/6/2024, số nợ còn lại là 743.128.890 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 565.595.238 đồng, nợ lãi là 115.220.991 đồng, nợ lãi quá hạn là 62.312.661 đồng. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông B1, bà V phải thanh toán một lần số nợ còn lại, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Và tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng nói trên kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi ông B1, bà V trả hết nợ. Đồng thời, MSB yêu cầu được kê biên, phát mãi bán tài sản thế chấp là 01 xe ô tô con 5 chỗ ngồi, hiệu Hyundai Accent 1.4 AT HGS PE, màu đen, xuất xứ: Việt Nam, nhãn hiệu: HYUNDAI ACCENT, biển số: 79A-368.29 (Theo Giấy đăng ký xe ô tô số 79008976 do Phòng C Công an tỉnh K cấp ngày 09/01/2022 cho bà Võ Thị Tường V), đúng nội dung cam kết tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 00108/2022/BĐ-NT ngày 10/01/2022, để thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo cam kết.
[2.2] Tòa xét: Việc giao kết hợp đồng, thỏa thuận lãi suất giữa M - Chi nhánh K - Phòng G với ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Do vậy, Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05551/HĐTD/2021/HĐTCHM/RB/476472 ngày 25/12/2021 và Hợp đồng cho vay số: 00108/2022/HĐCV/RB/476472 ngày 10/01/2022, có đủ điều kiện để phát sinh hiệu lực, các chủ thể tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện các thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng.
Từ ngày 07/02/2022, ông B, bà V không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận nên MSB - Chi nhánh K - Phòng G đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay sang nợ quá hạn là đúng thỏa thuận của các bên được ghi nhận tại các Hợp đồng tín dụng nói trên. Việc ông B, bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do vậy, nguyên đơn MSB khởi kiện yêu cầu bị đơn ông B, bà V phải thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 20/6/2024: Nợ gốc là 565.595.238 đồng, nợ lãi là 115.220.991 đồng, nợ lãi quá hạn là 62.312.661 đồng; Tổng cộng: 743.128.890 đồng (Bảy trăm bốn mươi ba triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi đồng), là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đã ký, phù hợp qui định của Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên được chấp nhận.
Ngoài ra, vào ngày 10/01/2022, giữa MSB - Chi nhánh K - Phòng G (Bên nhận thế chấp) với ông Trần Thanh B và bà Võ Thị Tường V (Bên thế chấp) có ký kết Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 00108/2022/BĐ-NT; Theo đó, ông B, bà V thế chấp tài sản là: 01 (Một) xe ô tô con 5 chỗ ngồi, hiệu Hyundai Accent 1.4 AT HGS PE, màu đen, xuất xứ: Việt Nam, nhãn hiệu: HYUNDAI ACCENT, biển số: 79A-368.29 (Theo Giấy đăng ký xe ô tô số 79008976 do Phòng C Công an tỉnh K cấp ngày 09/01/2022 cho bà Võ Thị Tường V), để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông B, bà V đối với khoản vay trên. Thỏa thuận này được các bên xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp ông B, bà V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì MSB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo, để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[3.1] Bị đơn ông Trần Thanh B và bà Võ Thị Tường V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/6/2024: 743.128.890 đồng; Cụ thể: Ông B, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 20.000.000đ + [(743.128.890 đồng - 400.000.000 đồng) x 4%] = 33.725.155 đồng (Ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi lăm đồng).
[3.2] Hoàn trả lại cho MSB số tiền tạm ứng án phí 14.797.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) mà M đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000274 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 335; Điều 336; khoản 1 Điều 342; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H1;
-
Ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V có nghĩa vụ thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền còn nợ (Tính đến ngày 20/6/2024) là: 743.128.890 đồng (Bảy trăm bốn mươi ba triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi đồng); Trong đó:
- Nợ gốc là 565.595.238 đồng;
- Nợ lãi là 115.220.991 đồng;
- Nợ lãi quá hạn là 62.312.661 đồng;
Và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, tính từ ngày 21/6/2024 cho đến khi ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V thanh toán hết nợ vay, theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05551/HĐTD/2021/HĐTCHM/RB/476472 ngày 25 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng cho vay số: 00108/2022/HĐCV/RB/476472 ngày 10 tháng 01 năm 2022 và các Phụ lục kèm theo.
- Trường hợp ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là 01 (Một) xe ô tô con 5 chỗ ngồi, hiệu Hyundai Accent 1.4 AT HGS PE, màu đen, xuất xứ: Việt Nam, nhãn hiệu: HYUNDAI ACCENT, biển số: 79A-368.29 (Theo Giấy đăng ký xe ô tô số 79008976 do Phòng C Công an tỉnh K cấp ngày 09/01/2022 cho bà Võ Thị Tường V), để thu hồi nợ, theo đúng cam kết tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 00108/2022/BĐ-NT, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 với ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V.
-
Ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V có nghĩa vụ thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền còn nợ (Tính đến ngày 20/6/2024) là: 743.128.890 đồng (Bảy trăm bốn mươi ba triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi đồng); Trong đó:
-
Án phí:
- Bị đơn ông Trần Thanh B, bà Võ Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 33.725.155 đồng (Ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi lăm đồng).
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền tạm ứng án phí 14.797.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) mà Ngân hàng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000274 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
- Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Ngọc Yến Anh |
Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 125/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH Hàng Hải - Vy, Bảo
