TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/9/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lạc
Ông Trần Văn Mới
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoài Hận – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 519/2024/QĐXXST-HN ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 619/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Trần Phương E, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Hồng T trình bày:
Bà và ông Trần Phương E tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2011, đến năm 2014 đăng ký kết hôn và đã được UBND xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/2014. Quá trình chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, ông Phương E thường xuyên nhậu nhẹc. Đến năm 2019 thì ông Phương E bị Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và bị phạt 14 năm tù. Nhận thấy không thể hàn gắn được nữa và tình cảm vợ chồng cũng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Phương E.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Thùy D (nữ), sinh ngày 27/6/2012 và Trần Thị Bích T1 (nữ), sinh ngày 01/4/2015. Hiện nay bà là người trực tiếp nuôi dưỡng nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn, không yêu cầu ông Phương E phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Có tài sản chung nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định có nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T 50.000.000đồng, mục đích vay để xây nhà ở và căn nhà hiện nay cha mẹ ruột ông Phương E đang quản lý sử dụng nên ông Phương E phải có nghĩa vụ trả khoản nợ này. Đối với số nợ tiền hụi 30.000.000đồng mà ông Phương E khai nợ của người tên H và nợ 20.000.000đồng thế chấp xe thì bà không biết 02 khoản nợ này.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn, ông Trần Phương E khai:
Ông và bà T kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Đến năm 2019 thì ông đi chấp hành án tại Trại giam P về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, thời hạn chấp hành 14 năm. Nay bà T yêu cầu xin ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Thùy D và Trần Thị Bích T1, ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ông chấp hành án xong sẽ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Ông xác định không có.
Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T 50.000.000đồng, nợ hụi người tên H là em cô cậu với ông 30.000.000đồng, nợ tiền thế chấp xe cho Ngân hàng 20.000.000đồng (do thời gian đã lâu nên ông không còn nhớ thế chấp ở Ngân hàng nào). Ông yêu cầu chia đôi số nợ này, mỗi người phải có trách nhiệm trả 50.000.000đồng. Trường hợp bà T không đồng ý với yêu cầu chia đôi số nợ của ông thì ông không đồng ý ly hôn với bà T.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bị đơn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, có tài sản chung nhưng không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung nguyên đơn xác định có nợ Ngân hàng hành chính sách xã hội huyện T 50.000.000đồng, nhưng việc vay tiền này là để xây dựng nhà ở và căn nhà này cha mẹ ông Phương E đang ở nên ông Phương E phải trả số nợ này.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cho thấy, hôn nhân giữa bà T và ông Phương E là do tự nguyện nên khi về chung sống ông, bà cũng đã có thời gian hạnh phúc, nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và hiện nay bà cũng không còn tình cảm vợ chồng. Mặc dù, ông Phương E có ý kiến không đồng ý ly hôn với bà T nhưng đó chỉ là một điều kiện để ràng buộc nghĩa vụ cùng ông trả nợ. Điều đó cho thấy ông Phương E đã mặc nhiên thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và ông cũng không mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của ông, bà đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, nếu có kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Phương E là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Trần Thị Thùy D (nữ), sinh ngày 27/6/2012 và Trần Thị Bích T1 (nữ), sinh ngày 01/4/2015. Hiện nay bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và để bảo đảm sự ổn định, tránh làm xáo trộn cuộc sống của các cháu nên tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Ông Phương E xác định không có, bà T xác định có tài sản chung, nhưng không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[5] Về nợ chung: Ông Phương E, bà T xác định có nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T 50.000.000đồng, nhưng Ngân hàng không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[6] Đối với số nợ mà ông Phươg E1 khai còn nợ người tên H30.000.000đồng và nợ thế chấp xe cho Ngân hàng 20.000.000đồng. Do bà T không thừa nhận và cũng không biết, ông Phương E cũng không cung cấp họ tên, địa chỉ cụ thể nên Toà án không thể triệu tập những chủ nợ mà ông Phương E khai đến Toà án để ghi nhận ý kiến. Do đó, nếu sau này có có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác
[7] Về án phí hôn nhân: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Hồng T đối với ông Trần Phương E.
- Về con chung: Giao cháu Trần Thị Thùy D (nữ), sinh ngày 27/6/2012 và Trần Thị Bích T1 (nữ), sinh ngày 01/4/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phương E không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Phương E không ai được quyền ngăn cản. Để bảo đảm quyền lợi của trẻ, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Phương E xác định không có, bà T xác định có tài sản chung, nhưng không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về nợ chung: Ông Phương E và bà T xác định có nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T 50.000.000đồng, nhưng Ngân hàng không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đồng, bà T phải chịu. Bà T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007517 ngày 20/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đở |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
