Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Bình
  2. Ông Lò Văn Trực

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân -Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa:

Bà: Trương Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QÐST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm: 1996

Trú tại: Thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hứa Trọng Ngh, sinh năm: 1997

Trú tại: Thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị H trình bày: Chị và anh Ngh tìm hiểu trong khoảng hơn 01 năm, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo tập quán của địa phương năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q ngày 22/8/2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có với nhau 01 người con chung, quá trình chung sống năm 2020 vợ chồng cùng đi làm xa nhà, gửi con cho bà nội nuôi, đến năm 2021 anh Ngh có tình cảm với người khác, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn tranh cãi nhau, sau đó anh Ngh bỏ đi không ở chung với chị nữa, vợ chồng ly thân từ năm 2021 cho đến nay, đến năm 2022 chị thấy anh Ngh không muốn ở với chị nữa vì vậy mỗi khi đi làm về chị lại về nhà ngoại sống và đón con lên chơi cùng. Nay chị thấy vợ chồng nhưng không cùng chung mực đích xây dựng gia đình, không có hạnh phúc nên có nguyện vọng được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hứa Trọng D, sinh ngày 05/01/2016. Hiện nay cháu đang ở với anh Ngh và bà nội. Ly hôn chị cũng muốn nuôi con, nhưng xét thấy từ nhỏ cháu đã ở với bà nội, vì vậy chị sẽ tôn trọng ý kiến của con, con muốn ở với ai chị cũng đồng ý, và người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Ngh không đến tòa án làm việc, chị H đề nghị không tiến hành hoà giải. Vì vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh Ngh không đên làm việc. Anh Ngh cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa cho công bố đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Căn cứ điều 227, 228, 238 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273 BLTTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Ngh.

Về con chung: Giao cháu Hứa Trọng D, sinh ngày 05/01/2016 cho anh Ngh trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị H có quyền và Ngh vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm.

Về tài sản, công nợ: Chị H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu ở huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc TAND huyện B được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai dù đã được tống đạt hợp lệ. Vì vậy, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về hôn nhân: Chị H và anh Ngh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Điền Quang ngày 22/8/2018 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn nên từ năm 2021 đã ly thân, quá trình ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị H được ly hôn anh Ngh.

[4] Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Hứa Trọng D, sinh ngày 05/01/2016. Vợ chồng ly hôn chị H cũng có nguyện vọng được nuôi con, nhưng xét thấy từ nhỏ cháu đã ở với bà nội và anh Ngh, vì vậy chị sẽ tôn trọng ý kiến của con, con muốn ở với ai chị cũng đồng ý, và người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tại biên bản xác minh ngày 12/7/2024 thể hiện cháu D từ nhỏ đến nay do bà nội và bố trực tiếp nuôi dưỡng, cháu D trình bày có nguyện vọng ở với bố. Xét để đảm bảo quyền lợi và theo nguyện vọng của cháu D. Nay ly hôn giao cháu D cho anh Ngh tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn anh Hứa Trọng Ngh.

Về con chung: Giao cháu Hứa Trọng D, sinh ngày 05/01/2016 cho anh Ngh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi thành niên, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị H có quyền và Ngh vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.

Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu ký hiệu: BLTU/23 số 0005876 ngày 20/6/2024. Chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sư, thời hiệu thi hành án được thi hành án được thực hiện hiện theo quy định tại điều 30 – Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện B;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Q;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Vũ Văn Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H ly hôn anh Ngh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger