TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày: 10-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Anh – Bí thư đoàn phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Ông Đỗ Văn Kha – Bí thư chi bộ; Trưởng khu phố Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ TRỌNG T7; tên gọi khác: không; sinh năm 2003, tại Bình Phước; nơi đăng ký thường trú: Thôn F, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Con ông Lê Trọng P, sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa xét xử trực tuyến, điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Những người tham gia tố tụng sau đây tham gia phiên tòa xét xử trực tuyến tại điểm cầu Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
* Người bị hại:
- Đỗ Phạm Huy H, sinh ngày 29/6/2006; Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn F, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Nguyễn Thế T2, sinh ngày 22/4/2008; Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1981; Nơi cư trú: thôn F, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Nguyễn Minh K, sinh ngày 19/3/2007; Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm, 1982; Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Phan Anh K1, sinh ngày 25/8/2008; Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngưu Thị N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Phan Anh K1: Bà Hoàng Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Quý H2, sinh năm 1964; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Phạm Bắc G, sinh năm 1991; Nơi cư trú: khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Hồ Thị H3, sinh năm 1990; Nơi cư trú; khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- Nguyễn Văn P1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Trần Văn T5, sinh năm 1983; khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Nguyễn Thanh T6, sinh năm 1986; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Trần Thị H4, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Trần Thị Mỹ P2, sinh năm 1994; Nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Lê Quý Đ, sinh năm 1995; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tìm việc làm nên Đỗ Phạm Huy H, sinh ngày 29/6/2026; Phan Anh K1, sinh ngày 25/8/ 2008; Nguyễn Thế T2, sinh ngày 22/4/2008 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 19/3/2007 liên hệ, nhờ Lê Trọng T7 tìm việc làm. Khi thấy H, T2, K1 và K liên hệ tìm việc làm thì T7 này sinh ý định lấy tài sản xe, điện thoại của H, T2, K1 và K đem đi cầm cổ lấy tiền mua tài khoản game và tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, T7 nói với H, T2, K1, K phải có xe, điện thoại thì mới làm được công việc đồng thời phải nói dối với bố mẹ là đi làm phục vụ nhà hàng. Để tạo lòng tin, T7 nói với H, T2, K1 và K phải mang xe mô tô của những người tham gia làm công việc đến công ty để chấm công, còn điện thoại thì T7 giữ để T7 cày game giúp.
Ngày 21/4/2024, do tin tưởng nên H giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ đen, biển số 93L1-456.01 kèm giấy chứng nhận đăng kí xe, 01 điện thoại Oppo A15 cho T7; Phan Anh K1 giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số 93T7-1722 kèm giấy chứng nhận đăng kí xe, 01 điện thoại Oppo A9 cho T7; Nguyễn Thế T2 giao 01 xe mô tô biển số 93K 1- 014.29, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, 01 điện thoại Oppo Reno 5 cho T7. Đến ngày 28/4/2024, Nguyễn Anh K2 giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, chưa cấp biển số cho T7. Sau khi nhận được tài sản, T7 mang xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ đen, biển số 93L1-456-01 của H kèm giấy chứng nhận đăng kí xe đi đến tiệm cầm đồ "Quy Hùng” để cầm cố cho ông Lê Quý H2 được số tiền 8.000.000 đồng; mang xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số: 93T7-1722 kèm giấy chứng nhận đăng kí xe của K1 đi đến tiệm cầm đồ "Hậu" cầm cố cho bà Hồ Thị H3 được số tiền 2.000.000 đồng; mang xe mô tô biển số 93K1-014.29, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius của T2 và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, chưa cấp biển số của K2 đi đến tiệm cầm đồ “Nguyên Phát 3" cầm cố cho ông Phạm Bắc G được số tiền 9.000.000 đồng còn 03 điện thoại di động (Oppo A, Oppo A, Oppo R) T7 mang đến tiệm điện thoại "Quang Đạt" cầm cố cho ông Nguyễn Văn P1 được số tiền 3.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền cầm cố được các tài sản là 22.000.000 đồng, T7 sử dụng để mua tài khoản game “Liên Minh Huyền Thoại"; "Free Fire" và tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 28/4/2024, Đỗ Phạm Huy H, Phan Anh K1, Nguyễn Thế T2, và Nguyễn Minh K đến Công an thành phố Đ để trình báo sự việc.
Ngày 29/4/2024, Lê Trọng T7 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đầu thú.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu HDMOTOR biển số 93T7-1722 đã qua sử dụng, trị giá 4.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu HONDA biển số 93L1-456.01 đã qua sử dụng, trị giá 8.500.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA biển số 93K1-014.29 đã qua sử dụng, trị giá 12.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA chưa biển số, số khung: RLCUE3720RY166530, số máy: E32VE889098, xe đã qua sử dụng, trị giá 18.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15 đã qua sử dụng, trị giá 700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 2020 đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 đã qua sử dụng, trị giá 2.500.000 đồng.
* Tại Bản cáo trạng số 130/CT-VKS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Lê Trọng T7 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Trọng T7 mức án từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung do không có nghề nghiệp và thu nhập;
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi toàn bộ tài sản và trả lại cho chủ sở hữu, các bị hại không ai có yêu cầu gì về bồi thường nên không xem xét; Buộc bị cáo hoàn trả cho ông Lê Quý H2 số tiền 8.000.000 đồng.
* Bị cáo Lê Trọng T7 tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Bị hại Phan Anh K1 và người đại diện hợp pháp thống nhất lời khai của bị cáo, không ý kiến tranh luận; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại K1 - bà Hoàng Thị H1 thống nhất toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; những người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Lê Trọng T7 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đối chiếu lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người bị hại, Bản kết luận điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào ngày 21 và ngày 28/4/2024, tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Lê Trọng T7 dùng thủ đoạn gian dối hứa hẹn giúp xin việc làm cho Đỗ Phạm Huy H, Nguyễn Thế T2, Phan Anh K1, Nguyễn Minh K để các bị hại tin tưởng giao tài sản, cụ thể:
Đỗ Phạm Huy H giao 01 xe mô tô biển số 93L1 – 456.01 trị giá 8.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15 trị giá 700.000 đồng;
Nguyễn Thế T2 giao 01 xe mô tô hiệu biển số 93K1 – 014.29 trị giá 12.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 trị giá 2.500.000 đồng;
Phan Anh K1 giao 01 xe mô tô biển số 93T7 – 1722 trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 trị giá 1.500.000 đồng;
Nguyễn Minh K giao 01 xe mô tô hiệu YAMAHA chưa có biển số trị giá 18.000.000 đồng.
Sau khi nhận được tài sản của H, T2, K1 và K, thì T7 chiếm đoạt đem đi cầm cố được số tiền 22.000.000 đồng và tiều xài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản Lê Trọng T7 chiếm đoạt của các bị hại được Hội đồng định giá kết luận là 47.200.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Hành vi của Lê Trọng T7 là phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét, Lê Trọng T7 là người có đủ năng lực hành vi dân sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối hứa hẹn, tạo niềm tin giúp các bị hại xin việc làm để các bị hại giao tài sản nhưng thực chất bị cáo không có khả năng xin được việc làm cho các bị hại, ngay sau khi nhận được tài sản đã mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất lòng tin giữa con người với nhau; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nguy hiểm cho xã hội nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi, hậu quả bị cáo gây ra.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần chiếm đoạt nhiều tài sản của các bị hại và chiếm đoạt tài sản của Phan Anh K1, sinh ngày 25/8/2008 là thuộc các trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”; “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi đã thực hiện; có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho các bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng.
[5] Đối với ông Nguyễn Văn P1, ông Lê Quý H2, ông Phạm Bắc G và bà Hồ Thị H3 là người nhận cầm cố xe mô tô và điện thoại di động nhưng không biết đây là tài sản do Lê Trọng T7 phạm tội mà có nên không đặt vấn đề xử lý. Tuy nhiên, ông H2, ông B và bà H3 có hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ đó cho người mang tài sản đi cầm cố là vi phạm Điểm 1 Khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt mỗi người số tiền 7.500.000 đồng.
[6]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại các tài sản gồm: 01 xe mô tô biển số 93L1-456.01 cùng giấy chứng nhận đăng kí xe và 01 điện thoại di động hiệu OPPO cho bà Phạm Thị T1; 01 xe mô tô hiệu biển số 93K1- 014.29 cùng giấy chứng nhận đăng kí xe và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 cho bà Nguyễn Thị D; 01 xe mô tô biển số 93T7-1722 cùng giấy chứng nhận đăng kí xe và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 cho bà Ngưu Thị N; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA chưa có biển số đã trả lại cho ông Nguyễn Minh T3. Việc trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật. Các bị hại và người đại diện hợp pháp không yêu cầu gì về bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Lê Quý H2 nhận cầm cố xe mô tô biển số 93L1-456.01 và đưa cho T7 số tiền 8.000.000 đồng, ông H2 yêu cầu T7 hoàn trả lại, bị cáo T7 đồng ý.
- Ông Phạm Bắc G nhận cầm xe mô tô hiệu biển số 93K1-014.29 và xe mô tô hiệu YAMAHA chưa có biển số và đưa cho tài 9.000.000 đồng; Bà Hồ Thị H3 nhận cầm cố xe mô tô biển số: 93T7-1722 và đưa cho bị cáo 2.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn P1 nhận cầm 03 điện thoại di động (Oppo A, Oppo A, O) đưa cho T7 3.000.000 đồng. Tuy nhiên ông G, bà H3 và ông P1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này, do vậy không xem xét giải quyết.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài và ý kiến của người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố Lê Trọng T7 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Lê Trọng T7 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Lê Trọng T7 hoàn trả cho ông Lê Quý H2 số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Kể từ ngày thỏa thuận có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Trọng T7 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
