TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HSST
Ngày: 24/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hà
2. Ông Nguyễn Trọng Điệp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TL - HSST ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Ngọc T, sinh năm: 2003; ĐKHKTT và nơi ở: Phòng 2 B2 Tập thể lắp ghép N, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Chu Ngọc H và bà Lăng Thị H1; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 27/02/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại: Anh Trần Văn C; sinh năm 1980; Địa chỉ: Số D ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội (vắng mặt tại phiên tòa); Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thu H2; Địa chỉ: Số D ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Chu Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 04h00 ngày 22/02/2024, sau khi uống rượu say, anh Trần Văn C đi bộ ra khu vực chợ H5 L, phường P, quận B, Hà Nội thì gặp Chu Ngọc T, anh Nguyễn Việt H3 và anh Nguyễn Việt D (Anh ruột của anh H3) đang ngồi nói chuyện tại cuối ngõ A Hồ N, phường P, B, Hà Nội, đoạn giao với đường P mới. Thấy anh C có biểu hiện say rượu, đứng chửi đổng ở giữa đường, nên T đến can ngăn và nói "Đi về đi không người ta đánh đấy". Lúc này, anh C liền chửi T rồi đi bộ vào ngõ A Hồ N, nhặt 01 con dao chặt đá, tiến tới chỗ T và tiếp tục chửi T. Anh Dũng thấy vậy giằng được con dao từ tay anh C vứt đi. Anh C vẫn tiếp tục chửi T, nên T bảo “Vào vườn hoa nói chuyện” nhưng sau đó ông Nguyễn Mạnh H4 là chú ruột của anh C tiến tới can T và anh C nên T quay lại chỗ H3 và D tiếp tục nói chuyện.
Khoảng 15 phút sau, anh C quay lại cầm hai con dao trên hai tay, xông tới chỗ T, anh D và anh H3 đang ngồi. Anh C dùng tay phải cầm dao phay vung lên chém về phía bắp tay trái T nhưng T tránh được và giữ được tay của anh C. Anh Dũng tiến tới giật được 02 con dao từ 02 tay của C ra, vứt xuống đất. Sau đó, do bức xúc với hành vi của anh C, T buông anh C ra rồi dùng tay phải của mình đấm 01 phát vào vùng má bên trái của anh C khiến anh C choáng váng trượt ngã ngửa xuống đường. T tiếp tục dùng chân phải đạp 01 phát vào vùng hạ bộ của C, dùng chân phải đá 01 phát trúng vào vùng sau đầu anh C, sau đó T bỏ đi. Anh C được người dân cùng người nhà đưa vào bệnh viện X cấp cứu. Đến 09 giờ ngày 22/02/2024, anh C nhập viện tại bệnh viện M1.
Về thương tích của anh C:
Căn cứ Giấy chứng nhận thương tích số 10/2024/CNTT-KHTH của Bệnh viện M1, xác định thương tích của anh Trần Văn C như sau: Thương tích lúc vào viện: Mắt phải: Lệ đạo ấn sạch, mi mắt không sưng nề, mắt giả. Mắt trái: Lệ đạo ấn sạch, mi mắt sưng nề, kết mạc cương tụ (++), giác mạc bục chỉ khâu vết rách giác mạc cũ vị trí 12h – 6h, seidel (+), củng mạc bình thường, tiền phòng xuất huyết độ 1, mất toàn bộ bình diện mống mắt, đồng tử phản xạ ánh sáng (-) mất toàn bộ bình diện mống mắt, đục vỡ thể thủy tinh, thủy tinh dịch không quan sát được, soi ánh đồng tử không quan sát được, vận nhãn bình thường, hốc mắt bình thường, đáy mắt không quan sát được. Xét nghiệm/CĐHA: Siêu âm: Mắt phải mắt giả. Mắt trái trục nhãn cầu 23.5mm, dịch kính vẩn đục rải rác, không bong võng mạc. Thị lực: Mắt phải: ST -; Mắt trái: ST (+). Tình trạng thương tích lúc ra viện: M phải: Mắt giả. Mắt trái: Kết mạc cương tụ nhẹ, mép rách giác mạc khâu kín, tiền phòng sâu sạch, đã lẩy thể thủy tinh ra khỏi vị trí giải phẫu. Soi đáy mắt võng mạc áp tốt. Thị lực: Mắt phải: ST -; MT: ĐNT 0.1m.
* Cơ quan CSĐT – Công an quận B gửi Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích tới Trung tâm P. Ngày 11/3/2024, Trung tâm P có Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 271/KLTTCT-TTPY như sau:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định y pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
1.1. Chấn thương mắt trái, vỡ nhãn cầu, bục chỉ khâu vết rách giác mạc cũ, vỡ thủy tinh thể.../ bệnh nhân tiền sử mắt phải là mắt giả.
Mắt trái đã được phẫu thuật khâu giác mạc. Hiện thị lực mắt trái, đếm ngón tay 0,2 mét, thị lực mắt phải sáng, tối âm tính: 85%.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn C tại thời điểm giám định là: 85% (Tám mươi lăm phần trăm), áp dụng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác:
- - Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biên chứng của tốn thương.
- Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện.
- - Tại thời điểm giám định, vùng mặt của anh Trần Văn C không có thương tích gây biến dạng hàm mặt.
- - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Trần Văn C do vật tày gây ra.
Sau khi điều trị ổn định, ra viện, anh Trần Văn C có đơn từ chối giám định bổ sung tỷ lệ tổn hại sức khỏe của mình.
Bị hại là anh Trần Văn C trình bày: Ngày 21/02/2024, anh C uống rượu tại nhà bạn từ khoảng 16h chiều đến rạng sáng ngày 22/02/2024 thì nghỉ và ra về. Trên đường về, anh C đi bộ một mình qua khu vực chợ H5 để về nhà. Tại đây, anh C đã gặp nhóm của Chu Ngọc T và xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Anh C do say rượu nên không nhớ chính xác đã chửi ai, chửi như thế nào. Sau đó, anh C chạy vào nhà ông Nguyễn Mạnh H4 (chú ruột của anh C) lấy 01 con dao chặt đá, sau đó bị người khác giằng ra. Một lúc sau, anh C lấy 02 con dao gồm 01 con dao bài chặt thịt và 01 con dao to hơn, rồi cầm 02 con dao trên 02 tay chạy ra chợ, mục đích để đánh nhau với nhóm của T. Khi ra đến ngã 3, đoạn giao ngõ A Hồ N với đường P mới, anh C đang nhìn xung quanh thì bị 01 nam thanh niên to cao ôm từ phía sau, sau đó có người khác giằng 01 con dao ở 01 tay trước, con dao trên tay còn lại anh Chí T1 bỏ ra. Anh C không còn nhớ sự việc diễn ra tiếp theo như thế nào, chỉ biết đến khi tỉnh lại, anh C đang nằm trong bệnh viện M1.
Tại cơ quan điều tra, Chu Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản nhận dạng, hình ảnh camera thu giữ tại hiện trường và các tài liệu khác thu thập được.
- - Người làm chứng anh Nguyễn Việt H3 có lời khai tại cơ quan điều tra: chứng kiến sự việc như nội dung nêu trên;
- - Người làm chứng chị Nguyễn Thị Hồng L (SN: 1975, Trú tại: 15 ngõ A P, p. P, B, H6) – chị Lê B hàng nước tại ngã ba đoạn ngõ A Hồ N giao với chợ H5 - đường P mới. Chị L khai tại cơ quan điều tra đã chứng kiến sự việc 02 lần anh C mang dao ra chửi và dọa T. Khi T có hành vi gây thương tích cho anh C thì chị Lê K nhìn thấy.
- - Người làm chứng Ông Nguyễn Mạnh H4 (Chú ruột của bị hại C) khai tại cơ quan điều tra khoảng hơn 3 giờ sáng ngày 22/02/2024 thấy T và Chí đuổi nhau chạy về phía nhà ông H4 nên ông H4 can ngăn và đuổi T đi vào chợ còn C ngồi trong nhà ông H4 một lúc rồi đi bộ về phía vườn hoa trong ngõ A Hồ N. Sự việc T đánh anh C sau đó ông H4 không rõ.
Vật chứng của vụ án
- - Thu giữ từ camera của Ban quản lý chợ L1 ghi lại hình ảnh Chu Ngọc T thực hiện hành vi gây thương tích cho anh C tại khu vực cuối ngõ A Hồ N. Toàn bộ các hình ảnh camera thu được được lưu vào 01 USB chuyển kèm hồ sơ vụ án.
- - Thu giữ của bị cáo Chu Ngọc T: 01 điện thoại di động Realme màu xanh đã bị hỏng.
- - Thu giữ của ông Nguyễn Mạnh H4:
- + 01 (một) con dao bài bằng kim loại tối màu dài khoảng 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 3,5 cm đã qua sử dụng.
- + 01 (một) con dao chặt bằng kim loại sáng màu dài khoảng 30 cm, chuôi gỗ dài 10 cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 7 cm đã qua sử dụng.
Trách nhiệm dân sự
Quá trình điều tra, anh Trần Văn C đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thu H2 là vợ anh C để giải quyết các vấn đề bồi thường về dân sự liên quan trong vụ án. Chị Nguyễn Thu H2 yêu cầu Chu Ngọc T bồi thường cho anh C số tiền 50.000.000 đồng bao gồm các khoản tiền: chi phí mổ hai lần, chi phí đi lại, bồi bổ ăn uống, thuốc men, tổn thất về sức khỏe, tinh thần... Chị H2 cung cấp một số hoá đơn chứng từ kèm theo hồ sơ vụ án. Chu Ngọc T chưa bồi thường cho anh C.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh Trần Văn C về hành vi “Mang theo vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”, quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền là 4.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 116/CT - VKS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố Chu Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo điểm b khoản 2 Điều 135 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo điểm b khoản 2 Điều 135 Bộ Luật hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo Chu Ngọc T không có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị về hình phạt: Áp dụng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 135; Điều 38; Điều 47; điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Chu Ngọc T từ 15 tháng đến 18tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa bị cáo Chu Ngọc T và chị Nguyễn Thu H2 đã thỏa thuận được với nhau về vấn đề bồi thường dân sự . Cụ thể, bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Trần Văn C. Tổng cộng tất cả các khoản thiệt hại theo quy định pháp luật bao gồm chi phí mổ, chi phí đi lại, bồi bổ ăn uống, thuốc men, tổn thất về sức khỏe, tinh thần... với tổng số tiền là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Bị cáo Chu Ngọc T chưa bồi thường cho anh C. Buộc bị cáo Chu Ngọc T phải bồi thường cho anh Trần Văn C số tiền: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng .
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Chu Ngọc T: 01 điện thoại di động Realme màu xanh đã bị hỏng, không sử dụng được.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bài bằng kim loại tối màu dài khoảng 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 3,5 cm đã qua sử dụng; 01 (một) con dao chặt bằng kim loại sáng màu dài khoảng 30 cm, chuôi gỗ dài 10 cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 7 cm đã qua sử dụng.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì.
Nội dung lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 04h00' ngày 22/02/2024, tại khu vực chợ H5 L, phường P, quận B, thành phố Hà Nội, anh Trần Văn C say rượu, đứng chửi đổng ở giữa đường, nên Chu Ngọc T đã đến can ngăn và nói “ Đi về đi không người ta đánh đấy”. Thấy vậy, anh C đã bực tức với T và đã hai lần dùng dao dọa và chửi bới T. Đối với lần thứ hai, anh C cầm 02 con dao trên hai tay, rồi dùng tay phải cầm dao phay chém sượt qua T, nhưng T tránh được. Đây là hành vi đã đe dọa tính mạng của T. Sau đó, do bức xúc với hành vi của anh C, Chu Ngọc T đã có hành vi sử dung tay đấm vào vùng mặt, dùng chân đá vào vùng hạ bộ và vùng sau đầu anh Trần Văn C. Hậu quả anh C bị chấn thương mắt trái, vỡ nhãn cầu, bục chỉ khâu vết rách giác mạc cũ, vỡ thủy tinh thể... tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn C tại thời điểm giám định là 85%, áp dụng Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Chu Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo điểm b khoản 2 Điều 135 Bộ Luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hìnhsự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện là có lỗi cố ý thực hiện hành vi xâm phạm sức khỏe của anh C.
Tuy nhiên cần xét đến anh Trần Văn C là người gây sự chửi, đe dọa tính mạng đối với bị cáo trước. Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo Chu Ngọc T phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy cần thiết áp dụng các điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Chu Ngọc T: 01 điện thoại di động Realme màu xanh đã bị hỏng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bài bằng kim loại tối màu dài khoảng 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 3,5 cm đã qua sử dụng; 01 (một) con dao chặt bằng kim loại sáng màu dài khoảng 30 cm, chuôi gỗ dài 10 cm, lưỡi dao dài 20 cm bản rộng 7 cm đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa bị cáo Chu Ngọc T và chị Nguyễn Thu H2 đã thỏa thuận được với nhau về vấn đề bồi thường dân sự. Bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại anh Trần Văn C tất cả các khoản thiệt hại theo quy định pháp luật bao gồm chi phí mổ, chi phí đi lại, bồi bổ ăn uống, thuốc men, tổn thất về sức khỏe, tinh thần... với tổng số tiền là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Bị cáo Chu Ngọc T chưa bồi thường cho anh C. Buộc bị cáo Chu Ngọc T phải bồi thường cho anh Trần Văn C số tiền: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng .
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 135; Điều 38; Điều 47; điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; Các Điều 46;106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
2. Tuyên bố bị cáo Chu Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Xử phạt: Bị cáo Chu Ngọc T 09 (Chín) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến ngày 04/5/2024.
Về dân sự: Áp dụng Điều 585, khoản 1 Điều 589, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Chu Ngọc T phải bồi thường cho anh Trần Văn C số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành không chịu trả hoặc chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thị Hành án dân sự thì người được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án phí HSST: Bị cáo Chu Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 125/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh)
- Số bản án: 125/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Chu Ngọc T, sinh năm: 2003; ĐKHKTT và nơi ở: Phòng 2 B2 Tập thể lắp ghép N, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Chu Ngọc H và bà Lăng Thị H1; Tiền án, tiền sự: không Người bị hại: Anh Trần Văn C; sinh năm 1980; Địa chỉ: Số D ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội (vắng mặt tại phiên tòa); Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thu H2; Địa chỉ: Số D ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
