TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HSST Ngày: 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Văn Sơn.
- Ông Lê Văn Rồi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hữu H1 và bà Phan Thị Ý; vợ tên Trương Thị Hồng L và có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2005, bị bắt về hành vi “Hiếp dâm trẻ em” đến năm 2006 được trả tự do do đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKS.CC ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lê Văn H về hành vi phạm tội như sau:
Lê Văn H là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định. Để có tiền tiêu xài và có chất ma túy sử dụng, H đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 18/12/2023, H gọi vào số điện thoại 0383.464.xxx gặp người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 3.800.000 đồng ma túy đá và hẹn giao nhận tiền, ma túy tại khu vực đồng ruộng thuộc huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, H điều khiển xe gắn máy biển số 59Y3-147.35 đi từ nhà đến điểm hẹn gặp người thanh niên bán ma túy, H giao số tiền 3.800.000 đồng và nhận 01 túi nylon bên trong có 02 gói ma túy đá, H cất giấu ma túy vào trong cốp xe phía trước rồi điều khiển xe đi về. Khi về đến đoạn đường Tỉnh lộ 15 thuộc Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an xã T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kiểm tra bắt quả tang thu giữ cùng tang vật vào lúc 12 giờ 45 phút cùng ngày.
Ngoài ra, Lê Văn H đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Lâm Sơn H2 02 lần, cụ thể: Lần 01 vào ngày 12/12/2023 với giá 300.000 đồng; lần 02 vào ngày 16/12/2023 với giá 300.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn H tại ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an thu giữ 01 điện thoại di động, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cái cân, 02 cái kéo, 03 gói nylon không chứa gì.
Kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Văn H và hình dấu Công an xã T, huyện C (ký hiệu mẫu m) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 15,0397g loại Methamphetamine.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội:
- - Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ; bị cáo tàng trữ 02 gói ma túy có khối lượng 15,0397 gam, loại Methamphetamine để bán thì bị bắt quả tang vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 18/12/2023. Trước đó, bị cáo đã bán cho Nguyễn Lâm Sơn H2 được 02 lần vào ngày 12/12/2023 và ngày 16/12/2023, mỗi lần 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, về nhân thân: Năm 2005, bị cáo bị bắt về hành vi “Hiếp dâm”, đến năm 2006 được trả tự do do đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 09 đến 10 năm tù.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền 600.000 đồng bán ma túy cho Nguyễn Lâm Sơn H2 sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong mang số vụ 57/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 02 cái kéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử, 03 gói nylon không chứa gì đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu S không rõ số Imei đã qua sử dụng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo.
- - 01 điện thoại hiệu Nokia của bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 xe mô tô biển số 59Y3-147.35 là xe của bà Trương Thị Hồng L, là vợ của bị cáo, bà L không biết việc bị cáo dùng xe đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả cho bà L là phù hợp.
Đối với thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau. Đối với Nguyễn Lâm Sơn H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển cho Công an xã A xử lý theo thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Lê Văn H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi tàng trữ 02 gói ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 15,0397 gam, loại Methamphetamine với mục đích để bán thì bị bắt quả tang vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 18/12/2023. Trước đó, bị cáo đã bán cho Nguyễn Lâm Sơn H2 02 lần vào ngày 12/12/2023 và ngày 16/12/2023, mỗi lần 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2] Bị cáo nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, về nhân thân: Năm 2005, bị cáo bị bắt về hành vi “Hiếp dâm trẻ em”, đến năm 2006 được trả tự do do đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[3] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại số tiền 600.000 đồng bán ma túy cho Nguyễn Lâm Sơn H2 sung vào ngân sách Nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong mang số vụ 57/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 02 cái kéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử, 03 gói nylon không chứa gì, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu S không rõ số Imei đã qua sử dụng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả cho bị cáo.
- - 01 điện thoại hiệu Nokia của bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 xe mô tô biển số 59Y3-147.35 là xe của bà Trương Thị Hồng L, là vợ của bị cáo, bà L không biết việc bị cáo dùng xe đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả cho bà L là phù hợp.
[6] Đối với thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau. Đối với Nguyễn Lâm Sơn H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển cho Công an xã A xử lý theo thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[7] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Lê Văn H nộp lại số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 57/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 02 cái kéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử, 03 gói nylon không chứa gì.
- + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu N đã qua sử dụng.
- + Trả cho bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung không rõ số Imei đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 58/PNK ngày 05/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL49).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Thắm |
Bản án số 125/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 125/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
