Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:125/2024/HS-ST

Ngày 20/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi- Bà Phạm Thị Ngọc Nga

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/HS-ST, ngày 26/08/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 06/09/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn L, sinh năm 1976, tại Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Nhân viên khách sạn; Trình độ văn hóa: 08/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Đình T và con bà: Trịnh Thị A (đều đã chết). Vợ: Đoàn Thị Hồng T1, con: 03 con. Con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/06/2024 đến ngày 19/6/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Bị hại: Chị Đặng Thị T2, sinh năm: 1968, nơi cư trú: số nhà A, đường N, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Văn L là nhân viên của khách sạn T3 có địa chỉ số A đường L, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình với nhiệm vụ dọn, kiểm tra phòng sau khi khách ra về xem tài sản của khách sạn có đầy đủ không, khách sử dụng những đồ dùng gì để báo lại với lễ tân khách sạn làm thủ tục thanh toán phòng cho khách. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/6/2024 chị Đặng Thị T2 cùng gia đình đi du lịch tại thành phố N, thuê phòng nghỉ B612, tầng 6 của khách sạn. Khoảng 06 giờ sáng ngày 10/6/2024 chị T2 ngủ dậy có tháo chiếc nhẫn tròn bằng vàng trắng, được đính nhiều viên kim cương để trên quyển sổ da ở kệ ti vi tại phòng ngủ, rồi cùng hai cháu Trần Ngọc Quỳnh A1, sinh ngày 07/5/2008, trú tại số A đường N, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 10/6/2011, trú tại thôn N, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng dọn đồ vào va li sau đó xuống tầng 1 khách sạn ăn sáng và báo với lễ tân khách sạn kiểm phòng để thanh toán, đến 06 giờ 10 phút cùng ngày khi Phạm Văn L đang trong ca làm việc của mình ở hành lang tầng 5 của khách sạn thì được lễ tân báo qua bộ đàm yêu cầu kiểm tra phòng B612 của chị T2. Lê đi thang máy lên tầng 6 đến trước cửa phòng, thấy cửa phòng đang đóng nên đã sử dụng thẻ mở cửa vào. Quá trình kiểm phòng Lê phát hiện một chiếc nhẫn kim loại màu trắng, có đính một viên đá màu trắng to nổi hẳn lên bề mặt của chiếc nhẫn, xung quanh viền nhẫn đính nhiều viên đá nhỏ màu trắng. Lê xác định đây là tài sản mà khách bỏ quên nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu sài, Lê quan s xung quanh thấy không có người nên đã lén lút lấy chiếc nhẫn rồi bỏ vào túi quần bên phải và điện đàm báo lễ tân là phòng đã đủ đồ, tiếp đó L dùng tay phải lấy chiếc nhẫn vừa trộm cắp được ra đeo vào ngón út tay trái rồi tiếp tục đi thang máy lên tầng 7 khách sạn để thực hiện nhiệm vụ kiểm phòng. Sau khi thực hiện nhiệm vụ kiểm phòng lần lượt từ tầng 7 xuống tầng 6 và tầng 5, Lê lại đi cầu thang bộ lên tầng 7 để kiểm phòng 709, khi lên đến tầng 7 Lê tháo chiếc nhẫn cất giấu vào trong hộc điện trên tường sau cánh cửa ra vào khu cầu thang bộ tầng 7 rồi tiếp tục làm việc. Khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày chị Đặng Thị T2 quay lại phòng tìm không thấy nhẫn nên đã đến Cơ quan Công an trình báo. Qúa trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Phạm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Cơ quan điều tra đã thu giữ tại hộc điện trên tường sau cánh cửa ra vào cầu thang bộ tầng 7 khách sạn T3 01 chiếc nhẫn. Ngày 10/6/2024 Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1068/QĐ-ĐTTH. Tại bản kết luận số 4394/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của V Bộ C1 kết luận: 01 (một) nhẫn kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu gửi giám định có tổng khối lượng 4,65 gam (tính cả các viên đá), trong đó: Phần kim loại là hợp kim vàng (A), đồng (Cu), K (Z), N1 (N); hàm lượng Au 75,11%. Nhẫn có màu trắng do được mạ rhodi (Rh). Các viên đá gắn trên nhẫn đều là kim cương tự nhiên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố N xác định giá trị 01 nhẫn có hàm lượng Au 75,11%, có màu trắng được mạ rhodi (Rh) có gắn 01 viên kim cương tự nhiên, kích thước 0,4x0,4cm, xung quanh viền nhẫn đính 40 viên kim cương tự nhiên có kích thước 0,1x0,1cm. Tổng giá trị tài sản sau định giá là 36.200.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất C tại khách sạn, thu giữ các dữ liệu sau đó ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số và dữ liệu điện tử đối với 04 tệp video. Tại bản Kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (Ký hiệu A1, A2, A3, A4).

Đối với 01 chiếc nhẫn bằng vàng trắng có đính viên kim cương, kích thước 0,4x0,4cm, viền ngoài nhẫn đính 40 viên kim cương có kích thước 0,1x0,1cm, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Đặng Thị T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chị T2. Chị T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Văn L 01 biển tên Lê Phạm ; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Sunrise, màu trắng-vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh; 01 ốp lưng điện thoại chất liệu nhựa, màu đen đã bị vỡ; 01 áo cộc tay màu đen và 01 quần dài màu xanh, tất cả đã qua sử dụng .

Tại bản Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 26/08/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng viện kiểm sát truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i,s, khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng đến từ 02 (Hai) năm 09 (chín) tháng; thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/09/2024. Giao bị cáo Phạm Văn L cho UBND xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Phạm Văn L có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho chủ sở hữu, bị hại đã nhận lại tài sản không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.

Đối với số tài sản đã thu giữ của bị cáo là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn L không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Phạm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 06 giờ 10 phút ngày 10/6/2024 bị cáo Phạm Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc nhẫn bằng vàng trắng có đính kim cương, kích thước 0,4x0,4cm, viền ngoài nhẫn đính 40 viên kim cương có kích thước 0,1x0,1cm của chị Đặng Thị T2 ở phòng B612, tầng 6 khách sạn T3 tại số A đường L, phường N, thành phố N, chiếc nhẫn trị giá là 36.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Văn L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi nhưng lại không chịu lao động chân chính có hành vi lén lút lấy trộm cắp tài sản của người khác. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “ Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tài sản trộm cắp đã trả lại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Đặng Thị T2 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì khác. Phần trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tài sản đã thu giữ của bị cáo gồm: 01 biển tên Lê Phạm ; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Sunrise, màu trắng-vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh; 01 ốp lưng điện thoại chất liệu nhựa, màu đen đã bị vỡ; 01 áo cộc tay màu đen và 01 quần dài màu xanh, tất cả đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng; thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/09/2024. Giao bị cáo Phạm Văn L cho UBND xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Phạm Văn L có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Nếu bị Phạm Văn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

(Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS).

Trả lại cho bị cáo tài sản cá nhân đã thu giữ gồm: 01 biển tên Lê Phạm ; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Sunrise, màu trắng-vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh; 01 ốp lưng điện thoại chất liệu nhựa, màu đen đã bị vỡ; 01 áo cộc tay màu đen và 01 quần dài màu xanh, tất cả đã qua sử dụng .

(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 09 năm 2024 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

2.Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Ngọc Nga – Phạm Ngọc Lợi

Trịnh Việt Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger