Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HSST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân - Vương Minh Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Quan Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST - HS ngày 07/11/2023, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Văn T; Sinh ngày 19/8/1990

Nơi thường trú: Tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Lê Văn T1, sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2013;

- Tiền án; Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Tại bản án số 25 ngày 06/5/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang (Nay là thành phố T), tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

+ Ngày 15/11/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với bản án số 25 ngày 06/5/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang (Nay là thành phố T), tỉnh Tuyên Quang, chấp hành hình phạt chung là 02 (Hai) năm tù.

+ Tại bản án số 138 ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (xảy ra ngày 16/01/2022, tài sản là 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wae trị giá 3.718.000 đồng).

+ Ngày 22/02/2023, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (xảy ra ngày 18/11/2018, tài sản là 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter trị giá 30.500.000 đồng); 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: Cướp tài sản (xảy ra ngày 02/3/2022, số tiền phạm tội 1.000.000 đồng); Tổng hợp với bản án số 138 ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, hình phạt chung 02 bản án là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2022.

* Hiện bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 06 - Trại giam T3, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thuộc Cục C - Bộ C1. Có mặt

* Bị hại: Anh Lê Văn M, sinh năm 2000

Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1998

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang: Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05/7/2019, Lê Văn T, trú tại Tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang gọi điện rủ bạn là anh Lê Văn M (trú cùng địa chỉ) ra quán bia “Phố bia” thuộc phường P, thành phố T để uống bia, anh M đồng ý rồi gọi điện rủ bạn là anh Nguyễn Văn L1, trú tại Thôn A, xã A, thành phố T (nay là Tổ dân phố A, phường A, thành phố T) đi uống bia cùng, anh L1 đồng ý, điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha 110, màu sơn xanh, đen, bạc, biển số 22B2-354.65 đến nhà đón anh M rồi cùng nhau đến quán bia “Phố bia”.

Tại quán bia, T cùng M, L1 và bạn của T (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) uống bia đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì T nhờ anh M đưa về nhà, nói là thăm con, anh M đồng ý, mượn xe môtô biển số 22B2-354.65 của anh L1 đưa T về nhà. Trên đường đi, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô biển số 22B2-354.65 do anh M đang điều khiển và điện thoại di động của M để mang đi bán lấy tiền chi tiêu (điện thoại iPhone 6s plus, dung lượng 16Gb, màu sơn đen, trong lắp sim của nhà mạng V1, thuê bao số 0828.226.333).

Khi M chở T đến khu vực Tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, cách nhà T khoảng 500 mét, thì T nói dối anh M cho T mượn xe môtô và điện thoại của anh M để tự đi về nhà, lý do điện thoại của T hết pin, anh M tin là thật nên dừng xe, giao xe môtô, điện thoại cho T rồi đứng ở đường chờ, còn T sau khi lấy được xe môtô, điện thoại của anh M không về thăm con mà điều khiển xe môtô đi thẳng về quận H, thành phố Hà Nội. Đối với anh M đợi khoảng 30 phút không thấy T quay lại nên gọi điện thì T nói dối là bị cảnh sát giao thông bắt, giữ xe, sau đó chặn liên lạc của anh M.

Khi về đến quận H, thành phố Hà Nội, T kiểm tra bên trong cốp xe môtô 22B2-354.65 có số tiền là 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) và các giấy tờ mang tên anh L1 gồm: 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân, 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô, 01 (Một) bản photo đăng ký xe mô tô, 01 (Một) bảo hiểm trách nhiệm dân sự. T thường tháo chiếc sim trong điện thoại di động của anh M, vứt đi nhưng không xác định được vị trí vứt sim và sử dụng chiếc điện thoại di động này, đến tháng 8/2019, T đến một cửa hàng điện thoại tại quận H, thành phố Hà Nội bán được 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), nhưng không xác định được địa điểm bán. Đến đầu năm 2020, T bán xe môtô biển số 22B2-354.65 cho một nam thanh niên (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) tại quận H, thành phố Hà Nội được 8.300.000 đồng (Tám triệu ba trăm nghìn đồng), toàn bộ số tiền trên, T chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 27/KL-KT-HĐĐGTS ngày 22/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại Wave alpha, biển kiểm soát 22B2-354.65, số khung RLHJA3919KY059180, số máy JA39E0915216, dung tích 109 cm3, màu sơn xanh, đen, bạc trị giá 14.000.000 đồng; điện thoại nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 6S PLUUS, bản quốc tế, dung lượng 16Gb, màu sơn đen là 4.500.000 đồng; 01 phôi sim trắng của nhà mạng V1 là 25.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 18.525.000 đồng (mười tám triệu, năm trăm hai năm nghìn đồng).

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKS-TP, ngày 16 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng Điều 55; Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với bản án số 29/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân Quận Hà Đông 10 năm 06 tháng tù, buộc chấp hành chung của 02 bản án, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/03/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 và Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho bị hại anh Lê Văn M giá trị xe môtô, điện thoại di động và số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền là 18.868.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Bị hại Lê Văn M không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị sim điện thoại giá trị là 25.000đ (hai mươi lăm nghìn đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Trước khi mở phiên tòa anh Nguyễn Văn L1 không yêu cầu anh Lê Văn M phải bồi thường phần dân sự trong vụ án này nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo (bản thân bị cáo không có tài sản).

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên quyền kháng cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành

quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 05/7/2019, tại Tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Lê Văn T đã có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Văn M (trú cùng địa chỉ) 01 (một) xe môtô biển số 22B2-354.65 trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng); số tiền 368.000 đồng (ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động iPhone 6s plus, dung lượng 16Gb, màu sơn đen, trị giá 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) trong lắp sim của nhà mạng V1, thuê bao số 0828.226.333, trị giá 25.000 đồng (Hai mươi lăm ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là 18.893.000 đồng (mười tám triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho bị hại anh Lê Văn M giá trị xe môtô, điện thoại di động và số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền là 18.868.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Bị hại Lê Văn M không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị sim điện thoại là 25.000đ (hai mươi lăm nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trước khi mở phiên tòa anh Nguyễn Văn L1 không yêu cầu anh Lê Văn M phải bồi thường phần dân sự trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù theo bản án số 29/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chấp hành hình phạt chung của 02 (hai) bản án là 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/03/2022.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 và Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho anh Lê Văn M số tiền số tiền 18.868.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Căn cứ: Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Bị cáo Lê văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 943.400 đồng (Chín trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn L1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.

" Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự hiện hành thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9

luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự";

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tân

Lý Thị Nhân

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
  • - VKSND tỉnh TQ
  • - VKS ND thành phố;
  • - Công an thành phố;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 125/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xet xur
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger