|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 04 - 2024. “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngân
Bà Bùi Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm: 1988; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
Hiện ở tại: Rue des F, B, 1000 Bruxelles - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm: 1979; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ; nơi cư trú: xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có chứng thực của Đ2 tại V Bỉ), nguyên đơn chị Mai Thị T trình bày:
Chị và anh Hoàng Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 6 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà anh B ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tháng 3 năm 2013, anh B đi xuất khẩu lao động tại Angola và đến tháng 01 năm 2024 đã về Việt Nam. Vì cuộc sống khó khăn nên tháng 6 năm 2022 chị T gửi con cho ông bà ngoại sang V Bỉ để lao động. Do khoảng cách địa lý, vợ chồng sống mỗi người ở một nơi nên thiếu tin tưởng và không còn quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn B.
Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung là Hoàng Anh Q, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 12/9/2012, hiện tại các cháu đang ở với bà Hoàng Thị Đ1 (mẹ của chị T). Nếu ly hôn, chị và anh B thỏa thuận giao con chung cho chị Mai Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Mai Thị T hiện đang cư trú và làm việc tại Vương quốc Bỉ, do kinh tế khó khăn không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho bà Lê Thị T2, Luật sư, thuộc Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh N thay mặt tôi nộp đơn khởi kiện, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị.
Bị đơn anh Hoàng Văn B trình bày:
Anh đã biết chị Mai Thị T nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, vụ án đã được Tòa án thụ lý. Anh đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện. Anh và chị Mai Thị T kết hôn với nhau vào ngày 05tháng 06 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, vì kinh tế khó khăn anh B đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài từ năm 2013 và hiện nay đã về Việt Nam từ tháng 01 năm 2024. Đến năm 2022 chị T đi xuất khẩu lao động tại V Bỉ. Do cuộc sống xa cách, vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau, tình cảm vợ chồng trở nên căng thẳng và không thể gắn bó được với nhau. Hiện tại, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh B cũng đồng ý .
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Hoàng Anh Q, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 12/9/2012, hiện tại hai cháu đang ở với bà Hoàng Thị Đ1 (mẹ của chị T). Nếu ly hôn, anh B đồng ý giao con chung cho chị Mai Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên anh B đề nghị Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh B đang cư trú tại Việt Nam, do anh chuẩn bị phải đi làm ăn xa nên không thể để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền bà Nguyễn Thị H (mẹ của anh B); trú tại: xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thay mặt anh B giao nhận các văn bản của Tòa án và giấy tờ liên quan đến việc ly hôn giữa anh và chị T. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Vợ chồng chị T, anh B kết hôn với nhau vào năm 2007 và có 02 con chung là Hoàng Anh Q, sinh ngày 27/7/2008 và Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 12/9/2012.Thời gian chị T và anh B đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài có gửi cháu Q và cháu T1 cho bà Đ chăm sóc, trông nom cháu từ năm 2022 cho đến nay. Tuy anh B đã về nước nhưng hai vợ chồng thống nhất nhờ bà Đ chăm sóc để các cháu ổn định việc học hành cho đến khi chị T về nước.
Việc ly hôn và thỏa thuận nuôi cháu Q và cháu T1 do vợ chồng chị T và anh B quyết định, bà không có ý kiến gì. Trong thời gian chị T đi lao động ở V Bỉ bà Đ đồng ý trực tiếp chăm sóc, trông nom cháu Q và cháu T1. Đồng thời, bà không yêu cầu chị T và anh B phải trả chi phí nuôi cháu từ năm 2022 cho đến nay và từ nay cho đến khi chị T về Việt Nam với các cháu. Bà cam đoan và chịu trách nhiệm trước nội dung trình bày của mình và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà.
Cháu Q và cháu T1 có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với bà ngoại là bà Nguyễn Thị Đ cho đến khi chị T về nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Mai Thị T hiện đang cư trú tại V Bỉ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn B hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 123, 124, 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Mai Thị T đang ở nước ngoài, chị T và anh B đều đề nghị không tiến hành hòa giải.
Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Mai Thị T hiện đang cư trú và làm việc tại V, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho bà Lê Thị T2 thuộc Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh N nộp đơn khởi kiện, bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Đ2 tại V Bỉ) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Văn B hiện đang cư trú tại Việt Nam, do công việc đi làm ăn xa nên không thể đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H (mẹ của anh B), cư trú tại: xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để nhận các tài liệu, văn bản của Tòa án và anh đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đơn trình bày ý kiến cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết vợ chồng mỗi người ở một nơi nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện tại, chị T và anh B đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị T và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung là Hoàng Anh Q, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 12/9/2012. Nay ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi 02 con chung và anh B đồng ý giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng. Do đó, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự giao cho chị Mai Thị T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Hiện nay, chị T đang ở nước ngoài nên bà Đ (mẹ của chị T) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q và cháu T1 chu đáo cho đến khi chị T về Việt Nam.
Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q và cháu T1: Bà Nguyễn Thị Đ không yêu cầu giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung: Chị Mai Thi T3 và anh Hoàng Văn B không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Hoàng Thị T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Mai Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị T và anh Hoàng Văn B được ly hôn.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Giao cho chị Mai Thị T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con gồm cháu Hoàng Anh Q, sinh ngày 27/7/2008 và cháu Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 12/9/2012, đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Nguyễn Thị Đ (mẹ của chị T) tự nguyện nhận chăm sóc, quản lý hai cháu cháu Hoàng Anh Q và cháu Hoàng Thị P T1 cho đến khi chị T trở về Việt Nam.
Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q và cháu T1: Bà Nguyễn Thị Đ không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Hoàng Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012679 ngày 21/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hải Minh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Xuân Thành | Đinh Văn Liêm | Nguyễn Thị Hải Minh |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
