|
TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:125/2024/HSST Ngày: 15/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Hải;
Ông Dương Đức Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường B thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 22/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024; đối với:
Bị cáo: Dương Đức L (tên gọi khác: Không), sinh năm 1960.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Dương Đức P và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); Có vợ là Ngô Thị S (đã chết); Có 03 con (lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1992).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2024, đến ngày 28/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm T, xã M, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
- - Anh Tống Văn T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm B, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Bà Q có mặt, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người chứng kiến:
- - Ông Dương Quốc V, sinh năm 1963; Địa chỉ: TDP T, phường N, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
- - Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; Địa chỉ: TDP C, phường N, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông V, anh H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 19/4/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố P đang làm nhiệm tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên đoạn đường quốc lộ 3 cũ thuộc tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Dương Đức L có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra phát hiện trong túi áo phía trước bên phải L đang mặc có 02 gói gấy bạc, bên trong đều có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục và 24.000 đồng tiền ngân hàng N1. Theo L khai nhận số chất rắn dạng cục màu trắng đục trên là ma túy loại Heroine của L cất giấu trên người để sử dụng cho bản thân. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng thu giữ và tạm giữ của L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha biển kiểm soát 20N1-1196 đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P giải quyết theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân tổng khối lượng 02 gói giấy bạc có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục thu giữ của L được 0,305 gam rồi niêm phong trong phong bì kí hiệu K gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 551/KL-KTHS ngày 27/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong kí hiệu K gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu giám định là 0,305 gam.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,291 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong có chứa vỏ bao gói; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 20N1-1196, số máy VDEJQ152FMH016234, số khung RPEWCH1PE7A016234 đã qua sử dụng; 24.000 đồng tiền ngân hàng N1 được chuyển đến kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
Với nội dung nêu trên, Cáo trạng số: 116/CT-VKSPY ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Dương Đức L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Đức L từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K ghi hoàn trả 0,291gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho;
Trả lại cho bị cáo Dương Đức L số tiền 24.000đ (hai mươi bốn nghìn đồng).
Trả lại cho bà Hoàng Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha biển kiểm soát 20N1-1196, màu đen, đã qua sử dụng có số khung RPEWCH1PE7A016234, số máy VDEJQ152FMH016234 để quản lý, sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Đức L theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Q) nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, những người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, bị cáo, đương sự có mặt cũng đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 19/4/2024, tại khu vực ngã tư đèn xanh đỏ, thuộc tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Dương Đức L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma tuý loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 116/CT-VKSPY ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Dương Đức L về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
-
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Dương Đức L được gia đình nuôi ăn học hết lớp 7/10, sau đó sinh sống và làm việc tự do tại địa phương, chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
-
Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và các quy định của pháp luật về quản lý các chất ma tuý cũng như các chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội về ma tuý nhưng vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do bị cáo có lối sống buông thả, ham chơi, bị rủ rê không làm chủ được bản thân nên đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi trái pháp luật. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ, được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vỏ bao mẫu lưu kho gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K ghi hoàn trả 0,291gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với số tiền 24.000 đồng (hai mươi bốn nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Dương Đức L không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha 20N1-1196, màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng, số khung RPEWCH1PE7A016234, số máy VDEJQ152FMH016234, dung tích 107cm³ có giấy đăng ký xe mang tên anh Tống Văn T, nhãn hiệu theo đăng ký xe là ESPERO nhưng anh T đã bán chiếc xe này từ năm 2019. Hiện nay bà Hoàng Thị Q đang quản lý sử dụng chiếc xe này, bà xác định nguồn gốc chiếc xe là của con trai bà mua lại của người khác, có giấy tờ xe đầy đủ mang tên Tống Văn T, sau khi con bà mất thì bà là người trực tiếp quản lý chiếc xe này, từ khi bà quản lý sử dụng chiếc xe thì không thay đổi gì về nhãn mác xe, còn con trai bà có thay đổi nhãn mác không thì bà không biết. Việc bị cáo L mượn xe sau đó đi mua ma tuý về sử dụng thì bà Q không được biết, bà đề nghị HĐXX trả lại cho bà làm phương tiện đi lại nên cần trả lại cho bà Q.
- Về án phí: Bị cáo Dương Đức L là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy H1, L khai xin được của một người nam giới nghiện ma túy không quen biết tại khu vực đường T, thuộc xã M, thành phố P. Do vậy, không có cơ sở để tiếp tục điều tra, xác minh.
- Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đức L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/4/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong ký hiệu K ghi hoàn trả 0,291gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho;
Trả lại cho bị cáo Dương Đức L số tiền 24.000 đồng (hai mươi bốn nghìn đồng);
Trả lại cho bà Hoàng Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha 20N1-1196, màu đen, đã qua sử dụng có số khung RPEWCH1PE7A016234, số máy VDEJQ152FMH016234, dung tích 107cm³ để quản lý, sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 và Uỷ nhiệm chi ngày 18/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục THADS thành phố P).
-
Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Đức L.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Dung |
Bản án số 125/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 125/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Đức L bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
