Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/5/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Linh Thu Hồng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính .
  • Ông Trần Văn Tam
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2895/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 138/2024/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1998.
  • Địa chỉ thường trú: Số H, tổ D, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Địa chỉ liên lạc: 1060 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Bị đơn: Ông Trần Quang Đ, sinh năm 1994.
  • Địa chỉ thường trú: Số H, tổ D, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(bà H, ông Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Trần Quang Đ có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B vào năm 2019 được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2019 ngày 01/3/2019, do cả hai đều tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Trần Quang Đ sử dụng chất kích thích ma túy, nhậu nhẹt, bài bạc, không chí thú làm ăn và thường xuyên đánh chửi bà, cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng, vợ chồng không còn thương yêu chăm sóc, giúp đỡ nhau. Từ tháng 11/2023, bà đã ra ngoài thuê phòng trọ ở, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà và ông Trần Quang Đ có 01 con chung, tên Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 15/8/2019. Hiện cháu N đang sống với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 26/3/2024, bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Quang Đ không đến Tòa làm việc và cũng vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời khai.

Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để cung cấp lời khai, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Xét cho bà H được ly hôn với ông Đ. Giao cháu Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 15/8/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông Trần Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không xét. Án phí dân sự sơ thẩm bà H phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần Quang Đ và đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn, ông Trần Quang Đ là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Qua xác minh tại địa phương, ông Trần Quang Đ đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số H, Tổ D, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[1.3] Về vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đại tự n xây dựng gia đình với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2019 ngày 01/3/2019) nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, Tại biên bản xác minh ngày 26/4/2024, Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B xác định không biết mâu thuẫn giữa bà H, ông Đ vì các đương sự không trình báo, không yêu cầu hòa giải. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ, nhưng ông Đ không đến Tòa án làm việc, chứng tỏ ông Đ không có thiện chí đoàn tụ, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Căn cứ và chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện bà H và ông Đ kết hôn năm 2019, đến tháng 11/2023 thì tự sống ly thân nhau đến nay, bà H khai vợ chồng mâu thuẫn do ông Đ sử dụng ma túy, nhậu nhẹt, bài bạc, không chí thú làm ăn, thường xuyên đánh chửi bà nên bà kiên quyết ly hôn. Ông Đ cũng không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, xử cho bà H được ly hôn ông Đ là phù hợp.

[3] Về con chung: Bà H khai có 01 con chung tên Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 15/8/2019, thời gian ly thân bà H là người trực tiếp nuôi con. Xét thấy, hiện các cháu đang sống với bà H, bà H có công việc, thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng cháu N. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng, xáo trộn đến cuộc sống, tâm sinh lý, sinh hoạt hằng ngày và học tập của cháu. Nên Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà H nuôi con không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nên không xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, xử cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Quang Đ.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 15/8/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Trần Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn ông Trần Quang Đ vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông Đ có quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông Đ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Tài sản chung, nợ chung: Không xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001545 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà H đã nộp đủ án phí.
  5. Bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quang Đ được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP Biên Hòa (1);
  • - Chi cục THADS TP Biên Hòa (1);
  • - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Đương sự (2);
  • - Lưu (3).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hường ly hôn với Trần Quang Đại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger