Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày: 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Công Ny

2. Bà Hồ Thị Kim Luyến

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 646/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S (Có mặt) Sinh ngày 15 tháng 02 năm 1992 Nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12.

Nơi thường trú: Số A, tổ D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Họ và tên cha: Nguyễn Thanh P, sinh năm 1966.

Họ và tên mẹ: Lê Ngọc D, sinh năm 1966.

Anh chị em: Có 01 người sinh năm 1994.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không, tiền sự: 01 lần. Ngày 20/9/2016 bị Công an phường A, quận N xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 1.500.000 đồng, chưa chấp hành.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/3/2024, đến ngày 08/4/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N.

Bị hại: Bà Huỳnh Minh Thư s năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Thanh P sinh năm 1966 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, tổ D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 10 phút ngày 01/3/2024, bị cáo từ nhà tại số A, tổ D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ điều khiển xe mô tô biển số 60K2 – 8115 chạy trên đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Khi đến trước cửa hàng T1 địa chỉ số B, M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thì bị cáo thấy xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 65B1-989.98 của chị Huỳnh Minh T đậu trước cửa hàng và không có người trông coi, trong hộc phía trước xe có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax. Lúc này, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại đi động của chị T bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo điều khiển xe mô tô của bị cáo dừng cạnh xe mô tô biển số 65B1-989.98 của chị T. Bị cáo lén lút tiếp cận rồi nhanh chóng dùng tay lấy trộm điện thoại đi động hiệu Iphone 12 Promax màu xám đen của chị T rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Bị cáo đã bán điện thoại lấy trộm được cho người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 4.000.000 đồng tại khu vực đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Số tiền thu được bị cáo tiêu xài cá nhân. Ngày 30/3/2024 bị cáo đến Công an quận N, thành phố Cần Thơ đầu thú.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 đôi dép tổ ong màu đen, 01 áo thun màu xanh dài tay (đã qua sử dụng), 01 xe mô tô biển số 60K2 – 8115.

Tại bản kết luận giám định tài sản số 735/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N: Kết luận 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xém đen, trị giá 11.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối với người nam mua điện thoại di động của bị cáo do trộm cắp mà có, bị cáo khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSNK ngày 21 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với đôi dép và áo của bị cáo thống nhất tịch thu tiêu hủy. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 124/CT-VKSNK ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận N. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và phù hợp lời khai của bị hại, các biên bản có trong hồ sơ vụ án. Ngày 01/3/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 11.000.000 đồng. Hành vi bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự: 01 lần. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú. Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô biển số 60K2- 8115 và thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này nên bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát ý kiến việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì họ đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 01/3/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại chị Huỳnh Minh T 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xám đen tại trước cửa

hàng T1 địa chỉ 2M, M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Bị cáo có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại nên đã mang điện thoại của bị hại đem bán cho người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 4.000.000 đồng tại khu vực đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Số tiền thu được bị cáo tiêu xài cá nhân.

Căn cứ kết luận giám định tài sản số 735/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N: Kết luận 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xám đen có giá trị 11.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự là bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an phường A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng ngày 10/9/2016, bị cáo chưa chấp hành.

Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại nên bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.

[6] Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:

Đối với các vật chứng 01 đôi dép tổ ong màu đen, 01 áo thun màu xanh dài tay (đã qua sử dụng), không có giá trị sử dụng và bị cáo thống nhất tịch thu tiêu hủy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển số 60K2 – 8115: Trong quá trình điều tra đã làm rõ ông Nguyễn Thanh P (cha của bị cáo) mua xe để sử dụng vào năm 2010, việc bị cáo sử dụng xe mô tô để trộm cắp tài sản ông P không biết. Ngoài ra, xe này do chị Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán từ năm 2006. Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm người sử dụng hợp pháp nhưng chưa có ai liên hệ. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015: Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thực hiện thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 60K2 - 8115, số máy 1P53FMH10071809, số khung LF3XCH00200100409, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản là vật chứng có yêu cầu thì sẽ được giải quyết và nhận lại tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời này, tài sản sẽ được sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 năm (Một năm) tù giam, thời hạn phạt tù tính từ ngày 30/3/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép tổ ong màu đen, 01 áo thun màu xanh dài tay (đã qua sử dụng).

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thực hiện thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 60K2 - 8115, số máy 1P53FMH10071809, số khung LF3XCH00200100409, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản là vật chứng có yêu cầu thì sẽ được giải quyết và nhận lại tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời này, tài sản sẽ được sung quỹ Nhà nước.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chị Huỳnh Minh T số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ninh Kiều;
  • - Công an quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger