TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc và ông Phạm Công Gia.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lương Thị Thùy D, sinh năm 1958 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); chồng: Lê Văn Đ, sinh năm 1960, con: Có 02 lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1990;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 29/9/2006, Công an P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương Thị Thùy D vì có hành vi trộm cắp tài sản.
- - Ngày 14/8/2008, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
- - Ngày 21/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 30/5/2024 đến ngày 07/6/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Thị Thùy D, sinh năm 1958, ngụ ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai hành nghề bán vé số.
Khoảng 17 giờ 30 ngày 29/5/2024, D đến quán C thuộc khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để mời khách mua vé số. Thời điểm này, D quan sát tại bàn ăn phát hiện một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 của chị Nguyễn Thị N (nhân viên quán C), sinh năm 1991, ngụ ấp B, xã P, huyện T, đang để trên bàn không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lợi dụng lúc quán đông người, nhân viên quán không để ý, D đi đến chỗ bàn ăn và lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác rồi đi ra khỏi quán, D mang điện thoại về tắt nguồn cất giấu tại phòng trọ tại ấp A, xã T.
Sau khi bị mất điện thoại di động, chị Nguyễn Thị N kiểm tra camara an ninh tại quán phát hiện Lương Thị Thùy D là người lấy trộm điện thoại nên có gọi điện thoại cho D yêu cầu trả lại điện thoại cho chị N. Đến ngày 30/5/2024, Lương Thị Thùy D cầm điện thoại trả lại cho chị N và đến Công an thị trấn T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu S A53, ốp lưng màu xanh dương; 01 đĩa DVD có chứa một đoạn video có thời lượng 10 phút 43 giây ghi lại hình ảnh Lương Thị Thùy D lấy trộm điện thoại.
Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 04/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53, đã qua sử dụng, có giá trị 3.100.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKSTP-ĐN ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Lương Thị Thùy D về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lương Thị Thùy D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Thị Thùy D từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự nên không xem xét.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng đã mô tả, bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 29/5/2024 tại quán C thuộc khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lương Thị Thùy D có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53, đã qua sử dụng, có giá trị 3.100.000 đồng của chị Nguyễn Thị N.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Thị Thùy D đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo:
- [4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- [4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trao trả cho bị hại, bị cáo đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay đang bị bệnh. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- [4.3]. Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5]. Về các biện pháp tư pháp:
- [5.1]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự nên không xem xét.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[7]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Lương Thị Thùy D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lương Thị Thùy D 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến ngày 07/6/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Thị Thùy D bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản
