Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/DS-ST

Ngày: 13/8/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Phạm Thu Hồng
  2. Bà: Trần Thị Kim Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Hiếu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (Tên viết tắt V).

Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn R – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B.

Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tấn T1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng - Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B.

Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

+ Bị đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Số C, ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty Cổ phần K.

Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Quốc T2 – Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Lê Uyên T3, sinh năm: 2001 – Địa chỉ: Số H, Nguyễn Trường T4, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên toà: Ông T1 có mặt, ông T5, bà T3 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2023 của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phầN (viết tắt TMCP) Ngoại thương Việt Nam, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:

Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M đã ký kết Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 133/VCB/22CD ngày 30/05/2022: Hạn mức cho vay là 3.860.000.000 đồng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua nhà tại Lô S (A1-22) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời hạn cho vay 240 tháng, thời hạn trả vốn và lãi vào ngày 05 hàng tháng. Lãi suất cho vay trong hạn: 10,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi phạt chậm trả: 10% số tiền lãi quá hạn.

Trong thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng Chương trình cho vay “An tâm lãi suất 2022”, kỳ hạn cố định lãi suất là 24 tháng tính từ thời điểm giải ngân cho các khoản giải ngân thuộc hợp đồng cho vay dài hạn được ký kết và rút vốn trong thời gian triển khai Chương trình. Trường hợp, hợp đồng vay có nhiều lần giải ngân: khoản giải ngân trong tháng nào sẽ áp dụng theo mức lãi suất cố định của tháng đó. Lãi suất cho vay cố định trong vòng 24 tháng kể từ ngày giải ngân.

Sau thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng trả lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng cộng 4%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay dài hạn của sản phẩm cho vay mua, xây, sửa bất động sản tiêu dùng dành cho khách hàng cá nhân theo sản phẩm chuẩn theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng tại thời điểm đó. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần sau 24 tháng kể từ ngày giải ngân trong hiệu lực của Hợp đồng cho vay.

Trường hợp khoản vay chuyển nợ không đủ tiêu chuẩn (phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5): Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay sau thời gian áp dụng lãi suất cố định. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần trong hiệu lực của hợp đồng cho vay.

Ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua phương thức: Gọi điện thoại hoặc tin nhắn hoặc bằng văn bản khi có sự thay đổi về mức lãi suất đang áp dụng cho khách hàng.

Tài sản đảm bảo hợp đồng vay là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai giữa chủ đầu tư và khách hàng nên giữa Công ty Cổ phần K và ông Nguyễn Văn M với Ngân hàng TMCP N có ký kết Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 30/5/2022. Trên cơ sở thống nhất giữa các bên, ông M có thế chấp cho

Ngân hàng các tài sản là Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A1-22/HĐMBN-2022 ngày 30/3/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Nguyễn Văn M. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố ; Lô số: PTM3-22 (A1-22); Đường số: Lộ cơ khí & đường D; Số tầng: Trệt + 2 lầu; Diện tích đất: 132 m², diện tích xây dựng: 55 m², tổng diện tích sàn xây dựng: 184 m²; Kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Tài sản trên được mô tả theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 131/NHNT/TC22 ngày 30 tháng 5 năm 2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M được công chứng tại Văn Phòng C, địa chỉ: E, Khu phố C, phường P, Thành phố B, tỉnh Bến Tre ngày 30/5/2022 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/5/2022 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng khách hàng đã rút số tiền vay là 3.520.000.000 đồng (theo giấy nhận nợ số 01 ngày 30/05/2022). Ông M không thực hiện việc thanh toán nợ khi đến hạn theo thoả thuận nên khoản tiền vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 08/08/2023. Tính đến ngày 08/11/2023, khách hàng đã quá hạn 93 ngày. Tổng nợ là 3.465.871.761 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.329.227.786 đồng (nợ gốc qua hạn 58.617.786 đồng), nợ lãi: 134.498.613 đồng (nợ lãi qua hạn 131.543.353 đồng), lãi phạt nợ quá hạn: 2.145.362 đồng.

V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn M thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay, ông Nguyễn Văn M vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho V, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với V, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của V.

Nay, V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Nguyễn Văn M phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V toàn bộ số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 3.743.272.488 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.329.227.786 đồng, lãi trong hạn: 5.746.339 đồng, lãi quá hạn: 382.840.763 đồng, lãi phạt chậm trả: 25.457.600 đồng.
  2. Ông Nguyễn Văn M còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 133/VCB/22CD ngày 30 tháng 05 năm 2022 kể từ ngày tiếp theo ngày 12/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho V.
  3. Trường hợp, ông Nguyễn Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Nguyễn

Văn M theo hợp đồng bảo đảm là Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 131/NHNT/TC22 ngày 30 tháng 05 năm 2022 giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn M để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

  1. Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho V thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn M để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn M vắng mặt nhưng trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án có gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần K vắng mặt và không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vị liên quan không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án là chưa đúng quy định tại Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dụng vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS; Nghị định số 21/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với ông Nguyễn Văn M. Buộc ông Nguyễn Văn M thanh toán cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 3.743.272.488 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.329.227.786 đồng, lãi trong hạn: 5.746.339 đồng, lãi quá hạn: 382.840.763 đồng, lãi phạt chậm trả: 25.457.600 đồng và tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận cho đến khi trả xong nợ.
  2. Trường hợp, ông Nguyễn Văn M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản là nhà ở có mã căn PTM3-22 (A1-22), diện tích đất 132m², diện tích xây dựng 55m², tổng diện tích sàn xây dựng 184m², kết cấu tường gạch, sàn BTCT thuộc khu dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 131/NHNT/TC22 ngày 30/5/2022 giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M và Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 30/5/2022 giữa Ngân hàng TMCP N, Công ty Cổ phần K và ông Nguyễn Văn M. Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Ngân hàng quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông M để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  3. Án phí và chi phí tố tụng được thực hiện theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe nguyên đơn phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn M và người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công ty Cổ phần K, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ, thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông M và người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Cổ phần K vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định.

Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho ông Nguyễn Văn M và người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần K để đưa vụ án ra xét xử nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn M trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có văn bản lựa chọn Tòa án giải quyết theo nơi thực hiện hợp đồng là Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre và tại Điều 9.3 của Hợp đồng ba bên ngày 30/5/2022, các bên có thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nơi Ngân hàng có trụ sở nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 và điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, việc ông M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Xét, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Văn M trả tổng số tiền vay và tiền lãi còn nợ tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 3.743.272.488 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.329.227.786 đồng, lãi trong hạn: 5.746.339 đồng, lãi quá hạn: 382.840.763 đồng, lãi phạt chậm trả: 25.457.600 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thảo thuận từ ngày 13/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp, ông M không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[4] Bị đơn là ông M và người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần K vắng mặt, không có cung cấp chứng cứ hay phản đối gì với yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả về việc không cung cấp chứng cứ theo Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngân hàng TMCP N có quan hệ tín dụng với ông Nguyễn Văn M thông qua Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 133/VCB/22CD ngày 30/05/2022: Hạn mức cho vay là 3.860.000.000 đồng, phương thức cho vay từng lần, mục đích vay:

Thanh toán tiền mua nhà tại Lô S (A1-22) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời hạn cho vay 240 tháng, phương thức thanh toán: trả vốn và lãi vào ngày 05 hàng tháng. Lãi suất cho vay trong hạn: 10,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi phạt chậm trả: 10% số tiền lãi quá hạn.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông M vay số tiền 3.520.000.000 đồng theo giấy nhận nợ lập ngày 30/5/2022. Ông M không thực hiện việc thanh toán nợ khi đến hạn theo thoả thuận nên khoản tiền vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 08/08/2023. Ngân hàng đã thông báo, nhắc nhở nhiều lần nhưng ông M vẫn không thực hiện việc trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận theo điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và tiền lãi phát sinh đến ngày 12/8/2024 với số tiền là 3.743.272.488 đồng là có căn cứ. Theo bản chiết tính thu nợ vay của Ngân hàng về số tiền vốn vay, lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của khoản tiền vay là chính xác, lãi suất vay hai bên thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Ngoài ra, ông M còn phải tiếp tục trả lãi đối với toàn bộ số nợ còn lại kể từ ngày 13/8/2024 theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.

[6] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:

Xét, Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai: Số A1-22/HĐMBN-2022 ngày 30/3/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Nguyễn Văn M; Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 30/5/2022 giữa Công ty Cổ phần K với ông Nguyễn Văn M và Ngân hàng TMCP N đã thực hiện đúng quy định khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 131/NHNT/TC22 ngày 30 tháng 5 năm 2022 giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định tại Điều 4, 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Công ty cổ phần K vắng mặt và không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là căn nhà theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 131/NHNT/TC22 ngày 30 tháng 5 năm 2022 được ký giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp, ông Nguyễn Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà thuộc: Lô số

PTM3-22 (A1-22) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre để thu hồi nợ.

[7] Do ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận nên căn cứ vào thỏa thuận hợp tác ba bên, Ngân hàng được quyền yêu cầu ông M và Công ty Cổ phần K giao tài sản để phát mãi thu hồi nợ.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn M phải chịu số tiền án phí như sau: Số tiền buộc trả là 3.743.272.488 đồng = 72.000.000 đồng + (2% x 1.743.272.488 đồng) = tính tròn là 106.865.000 đồng.

[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, điểm g Khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều Điều 108, 295, 299, 301, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn M về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền vay vốn và tiền lãi tính đến ngày 12/8/2024 là: 3.743.272.488 đồng (Ba tỷ bảy trăm bốn mươi ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng). Trong đó: Nợ gốc: 3.329.227.786 đồng, lãi trong hạn: 5.746.339 đồng, lãi quá hạn: 382.840.763 đồng, lãi phạt chậm trả: 25.457.600 đồng
  2. Buộc ông Nguyễn Văn M phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 133/VCB/22CD ngày 30/05/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N với ông Nguyễn Văn M kể từ ngày 13/8/2024 cho đến khi ông M trả xong nợ cho Ngân hàng.
  3. Trường hợp, ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số

131/NHNT/TC22 ngày 30 tháng 5 năm 2022 giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Văn M để thu hồi nợ.

Cụ thể: Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A1-22/HĐMBN-2022 ngày 30/3/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Nguyễn Văn M. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố ; Lô số: PTM3-22 (A1-22); Đường số: Lộ cơ khí & đường D; Số tầng: Trệt + 2 lầu; Diện tích đất: 132 m², diện tích xây dựng: 55 m², tổng diện tích sàn xây dựng: 184 m²; Kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Công ty Cổ phần K có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N trong việc xử lý tài sản thế chấp.

Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Ngân hàng quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn M để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 50.659.000 đồng (Năm mươi triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000959 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ nộp số tiền án phí là: 106.865.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thuý Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 125/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP N và Nguyễn Văn M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger