|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo.
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Quốc T, sinh năm 1975 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi thường trú: thôn G, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nơi tạm trú: khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Hải Đ và bà Phan Thị T1; có vợ là Lê Thị M và có 02 con; tiền sự: không;
Tiền án: ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 16/HS-ST ngày 30/9/1999 (bút lục số 92); chưa đóng tiền án phí và chưa chấp hành xong phần dân sự (bút lục số 95).
Ngày 16/01/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
2
- Bị hại: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: đường số B, tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Tào Thị T2, sinh năm 1977; nơi thường trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: đường số B, tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Mạnh H; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Ư; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L, Đào Quốc T, Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Văn Ư và Nguyễn Hữu L1 có mối quan hệ là bạn.
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/9/2023, L, T, H, Ư và L1 tổ chức uống bia tại nhà của L1 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, cả nhóm ngưng uống bia. Lúc này, T rủ cả nhóm đến phòng trọ của T thuộc khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để hát karaoke thì tất cả đồng ý. Tại phòng trọ của T, khi cả nhóm đang hát thì L nói T cho L hát một bài để đi về và nhờ T bấm giúp bài hát, T tìm bài hát không có nên L nói T “rủ qua hát đéo gì mà không có bài hát, đéo biết bấm bài gì, tôi đéo hát nữa”. Toản bực tức nên lao vào dùng tay phải đấm 01 cái vào vùng mặt của L thì được H và Ư căn ngăn. T3 chạy vào trong bếp lấy một con dao ra đe dọa đâm L thì H và Ư giật dao lại. L đi ra ngoài đường để về nhà thì T tiếp tục đuổi theo và tay phải lấy 01 (một) ống tuýp sắt dài khoảng 01m để ở lối đi của dãy trọ đánh trúng vào vùng tay trái của L gây thương tích. H và Ư lao vào ôm, can ngăn và kéo T về phòng trọ; còn L được người dân xung quanh chở về nhà. Sau đó, L đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị thương tích.
Ngày 15/9/2023, Nguyễn Văn L đến Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc. Công an phường T lập hồ sơ tiến hành tạm giữ: 01 (một) ống tuýp sắt dài khoảng 01m do T giao nộp và chuyển hồ sơ vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 616/2023/GĐPY ngày 27/10/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Văn L là 15 % (mười lăm phần trăm).
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Văn L yêu cầu bị cáo Đào Quốc T bồi thường số tiền 180.000.000 đồng; bao gồm: tiền thuốc men điều trị thương tích là 65.000.000 đồng; tiền thu nhập của ông L bị mất trong thời gian điều trị bệnh là 55.000.000 đồng (03 tháng 20 ngày x 500.000 đồng/ngày); tiền thu nhập của bà Tào Thị T2 bị mất trong thời gian chăm sóc ông L điều trị bệnh là
3
11.700.000 đồng (27 ngày x 450.000 đồng/ngày). Bị cáo Đào Quốc T đã bồi thường được số tiền 30.000.000 đồng; còn lại số tiền 150.000.000 đồng bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường.
Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSTU ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đào Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đào Quốc T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 150.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu 01 ống tuýp sắt là công cụ phạm tội.
Bị cáo Đào Quốc T không trình bày ý kiến tranh luận.
Bị hại Nguyễn Văn L trình bày ý kiến: đề nghị bị cáo bồi thường số tiền còn lại 150.000.000 đồng và xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Tào Thị T2 trình bày ý kiến: đề nghị bị cáo bồi thường cho tôi thu nhập bị mất trong thời gian chăm sóc bị hại điều trị thương tích với số tiền 11.700.000 đồng (27 ngày x 450.000 đồng/ngày). Số tiền này nằm trong tổng số tiền 180.000.000 đồng bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[1.2] Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 01/9/2023 tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Đào Quốc T có hành vi dùng tay đấm vào vùng mặt và dùng 01 ống tuýp sắt đánh vào vùng tay trái của ông Nguyễn Văn L gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình hát karaoke mà bị cáo đã dùng ống tuýp sắt là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thương tích. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng tỷ lệ tổn thương cơ thể 15% thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ và gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an nơi gây án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng ống tuýp sắt là hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại nhưng vì bản tính hung hăng, manh động, thích giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, sửa đổi, khắc phục hành vi sai trái mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 16/HS-ST ngày 30/9/1999; chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tính tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp
5
dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Văn L yêu cầu bị cáo Đào Quốc T bồi thường tổng số tiền 180.000.000 đồng; bao gồm: tiền thuốc men điều trị bệnh là 65.000.000 đồng; tiền thu nhập của ông L bị mất trong thời gian điều trị bệnh là 55.000.000 đồng (03 tháng 20 ngày x 500.000 đồng/ngày); tiền thu nhập của bà Tào Thị T2 bị mất trong thời gian chăm sóc ông L điều trị bệnh là 11.700.000 đồng (27 ngày x 450.000 đồng/ngày). Bị cáo Đào Quốc T đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng; còn lại số tiền 150.000.000 đồng chưa bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đối với 01 ống tuýp sắt là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đào Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đào Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ống tuýp sắt dài khoảng 01 mét, hình tròn.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 5 năm 2024).
3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Đào Quốc T bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn L số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
6
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đào Quốc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
