Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HS-ST

Ngày: 11/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hiệu

Ông Đào Ngọc Khải

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 12/7/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023, đối với bị cáo:

Cà Văn T, sinh năm: 1999. Tại: xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT: Bản Pí, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Nông nghiệp.

Con ông: Cà Văn T1, con bà Lò Thị S.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thanh T2 - Luật sư thực hiện hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (có mặt).

* Những người làm chứng:

- Ông Hoàng Đình L, sinh năm 1965. Nơi cư trú: thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

- Anh Cao Thanh H, sinh năm 1972. Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 20/4/2023, tại khu vực nghĩa trang T3, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang Cà Văn T, sinh năm 1999, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Pí, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; chỗ ở tại phòng C nhà N thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên đang mang ma túy đi bán trái phép, thu giữ tại túi quần trước bên phải T đang mặc 01 túi nilon, bên trong có 13 gói nilon màu xanh được gắn kín, trong các gói đều chứa các cục và bột màu trắng được niêm phong ký hiệu M1; thu giữ tại túi quần trước bên trái T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; thu giữ tại túi quần sau bên phải T đang mặc 01 ví giả da màu nâu, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T và số tiền 500.000 đồng.

Cùng ngày 20/4/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn T tại phòng 303 nhà nghỉ P, thu giữ 01 gói nilon màu xanh, trong có các cục và bột màu trắng trong balo để trên giường phòng 303 nhà nghỉ P, được niêm phong ký hiệu M2.

Kết luận giám định số 217/ KL - KTHS (MT) ngày 23/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, M2 là heroine, có khối lượng lần lượt là 0,605 gam và 0,476 gam.

Quá trình điều tra Cà Văn T khai nhận, bản thân nghiện heroine, sử dụng bằng hình thức chích, mỗi ngày sử dụng hai gói heroine. Nguồn gốc số heroine thu giữ là của T mua về để sử dụng và bán lại kiếm lời.

Tối ngày 19/4/2023, T ra khu vực gần trường trung học cơ sở X, xã M, tỉnh Điện Biên mua của người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ 1.000.000 đồng được 01 túi nilon, bên trong có 16 gói heroine, gồm 01 gói to và 15 gói nhỏ. Sau khi mua được heroine, T đi xe khách xuống Hưng Yên thuê phòng 303 nhà nghỉ P thuộc thôn N, xã T, huyện V để nghỉ. Khoảng 11 giờ ngày 20/4/2023, T bỏ 01 gói heroine to trong ba lô để tại giường ngủ phòng 303 nhà nghỉ P mục đích để bán sau; còn lại mang 15 gói heroine nhỏ đến khu vực nghĩa trang thôn A, xã N, huyện V để bán, T đã bán được 02 gói giá 200.000 đồng, còn lại 13 gói heroine chưa kịp bán đã bị bắt quả tang.

Đối với người đàn ông bán heroine cho T và người đàn ông mua heroine của T, do T không biết chính xác tên, tuổi, địa chỉ nên chưa đủ thông tin xác minh xử lý người bán ma túy cho T

Cáo trạng số: 115/CT-VKS-P1 ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Cà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Cà Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/4/2023.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 217/KL-KTHS (MT) bên trong chứa 1,036 gam heroine, 01 túi nilon màu trắng, toàn bộ mảnh nilon gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo trong niêm phong kí hiệu “ĐT”, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T và số tiền 500.000 đồng.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên còn đề nghị về án phí đối với bị cáo.

  • Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, các vấn đề khác nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
  • Bị cáo Cà Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; khai nhận trong số 500.000 đồng bị thu giữ có 200.000 đồng là tiền bị cáo bán 02 gói ma túy, còn lại 300.000 đồng không liên quan đến việc mua bán ma túy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình, bị cáo xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

3

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định số: 217/KL-KTHS(MT) ngày 23/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 20/4/2023, tại khu vực nghĩa trang T3, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cà Văn T đem 15 gói heroine đi bán nhưng mới bán được 2 gói giá 200.000 đồng thì bị bắt và thu giữ của bị cáo 13 gói nilon màu xanh được gắn kín, chứa tổng số 0,605 gam heroine. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn T tại phòng 303 nhà nghỉ P thuộc thôn N, xã T, huyện V thu giữ 01 gói nilon màu xanh chứa 0,476 gam heroine. Tổng số heroine T dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy bị thu giữ là 1,081 gam.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Bị cáo là người nghiện chất ma túy nên biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân phát sinh vi phạm, tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Nhưng vì nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng bị cáo đã bất chấp tất cả để đi vào con đường phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng; Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

4

*Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 217/KL-KTHS(MT) ngày 23/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H bên trong chứa 1,036 gam heroine, 01 túi nilon màu trắng, toàn bộ mảnh nilon gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật nhà nước cấm và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, cho tiêu hủy
  • Đối với 01 niêm phong kí hiệu “ĐT” bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo sẽ tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng do bán ma túy mà có, còn lại 300.000 đồng trả lại bị cáo.

[7].Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cà Văn T 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/4/2023.

[3]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 217 bên trong chứa 1,036 gam heroine, 01 túi nilon màu trắng, toàn bộ mảnh nilon gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • Trả lại bị cáo Cà Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo trong niêm phong kí hiệu “ĐT”, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng, trả lại bị cáo Cà Văn T số tiền 300.000 đồng. (Số tiền 500.000đồng đang gửi tại Tài khoản chờ xử lý của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

5

(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

[4]. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn T.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhân:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tuấn

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 125/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn Thảo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger