Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/DS-PT

Ngày 11 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang.

Các Thẩm phán: ông Đặng Văn Quyết và ông Nguyễn Việt Hùng;

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Lương Thất T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2024/TLPT-DS ngày 24/01/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2024/QĐ-PT ngày 24/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐ-PT ngày 20/03/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 48/2024/QĐ-PT ngày 03/4/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 157/TB-TA ngày 24/4/2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 233/TB-TA ngày 27/5/2024 giữa:

Nguyên đơn: bà Hà Thị L, sinh năm 1950 (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956;

Cùng địa chỉ: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1951 (xin vắng mặt);

Chị Vũ Thị H, sinh năm 1975 (có mặt);

Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đồng Bá T2, sinh năm 1972 (xin vắng mặt)
  2. Ông Mai Xuân T3, sinh năm 1952 (vắng mặt)
  3. Trần Thị L1, sinh năm 1955 (vắng mặt)
  4. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
  5. Đồng Thị M, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  6. Ông Võ Nhật T4, sinh năm 1958 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Bến Trăm, xã Đông Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

7. Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Văn Q - Trường phòng TN&MT huyện Y đại diện theo ủy quyền (vắng mặt);

8. Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Văn T5 - cán bộ địa chính xã đại diện theo ủy quyền (vắng mặt);

Người kháng cáo: nguyên đơn - bà Hà Thị L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - bà Hà Thị L trình bầy: Bà là công nhân của Nông Trường B, tháng 9/1998, bà được Nông Trường B giao khoán đất tại quyết định số 263 với diện tích 1.930 m² tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nông trường giao khoán để trồng mới vải thiều, đỗ cho cá nhân bà nhưng do điều kiện hoàn cảnh bà có con nhỏ, không sử dụng đất nên có cho bà Trịnh Thị T1 mượn đất làm, trông nom hộ, chỉ nói bằng miệng không có giấy tờ gì. Đến năm 2014 bà sang đòi đất thì bà T1 có nói đã giao lại đất bãi cho vợ chồng chị H, anh T2 trông nom hộ, bà có sang đòi đất nhưng vợ chồng chị H không trả. Bà xác định phần diện tích đất được giao theo hợp đồng giao khoán nằm trong tổng diện tích đất 5.906,7 m² mà bà đã chỉ cho công ty Đ2 là đúng, bà đồng ý với kết quả đo đạc. Bà chỉ khởi kiện theo đúng diện tích đã giao khoán cho bà trong hợp đồng là 1.930 m², phần diện tích thừa bà không yêu cầu. Bà xác định diện tích đất 1.930 m² hiện bà H đang quản lý 1 phần, phần còn lại là ông T3, ông H1, ông T4 quản lý, sử dụng nhưng bà không xác định được vị trí diện tích đất mà họ đang quản lý của bà là bao nhiêu nên bà chỉ khởi kiện đối với 1.930 m² theo hợp đồng giao khoán, phần diện tích thừa ngoài diện tích 1.930 m² bà không khởi kiện và không rõ phần diện tích đất thừa nằm ở đâu trên thực địa. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Trịnh Thị T1, chị Vũ Thị H trả lại diện tích đất là 1.930 m² thuộc các thửa 121,122, 123 tờ bản đồ số 84. Địa chỉ: B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 25/7/2023, bà L có yêu cầu bổ sung đề nghị Tòa án xem xét hủy GCNQSDĐsố BU 663219, số vào sổ cấp GCN: CH00471 do UBND huyện Y cấp ngày 05/6/2014 cho vợ chồng ông Mai Xuân T3 và bà Trần Thị L1.

Tại phiên tòa bà chỉ khởi kiện yêu cầu bà T1, chị H trả lại đất, bà không không khởi kiện đối với ông T3, ông H1, ông T4.

Bị đơn - bà T1 trình bầy: về nguồn gốc thửa đất vào năm 1992 con gái bà là Vũ Thị H trực tiếp đi cày, khai phá thửa đất mà bà L đang khởi kiện để trồng hoa màu và nộp sản phẩm cho đội trưởng nông trường là Lý Xuân N1 từ năm 1993 đến hết năm 2001 và sau đó lại nộp cho ông Ong Thế Đ từ năm 2002 đến hết 2007 thì nông trường không thu sản phẩm nữa, bà vẫn còn giữ sổ sách nộp sản phẩm hàng năm. Diện tích gia đình bà khai phá được do ông N1 trực tiếp đo bằng thước dây để tính thu thuế là 1.930 m², giáp ranh đất về phía Đông là ông Lê Văn H1, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn L2. Phía Tây giáp Vũ Văn T6, Mai Xuân T3, anh Vũ Văn K, Phạm Văn H2. Phía Nam giáp ông H2 và bờ sông, Phía Bắc giáp đường. Đến khoảng năm 2009 đến 2010 do bà đi làm thuê, chồng bà ở nhà làm vất vả nên có bán khoảng 1.600m² đất cho ông T7 (họ là gì năm sinh thì bà không nhớ). Do đất lúc đó không có giá trị nhiều nên ông T7 thỏa thuận chỉ tính giá trị cây vải thiều trên đất xong đưa tiền cho chồng bà nhận, sau đó ông T7 bán lại cho những ai thì bà không biết bà chỉ biết hiện tại phần diện tích khoảng 1.600m² này đang nằm trong diện tích đất bãi của ông Võ Nhật T4 đã quây tường bao quanh đang sử dụng để trồng cây gì thì bà không biết.

Diện tích đất còn lại khoảng 300m², năm 1994 bà có xây 01 nhà tạm bằng gạch 02 gian trên đất để chồng bà ra ở trông coi hoa màu, đến năm 2008, nhà 02 gian này bị mục, sập nên vợ chồng con gái bà phá đi để xây dựng nhà 02 tầng đến nay đang sử dụng. Bà xác định gia đình bà đã khai phá mảnh đất hiện nay đang do vợ chồng chị H sử dụng từ năm 1992 đến nay là đúng sự thật, từ đó đến nay không có tranh chấp với ai, chưa có văn bản thu hồi đất của nhà bà để giao ai. Nay bà L khởi kiện đòi đất của gia đình với diện tích đất là 1.930m², bà không đồng ý, bởi đất là của nông trường do người dân tự khai phá lấn chiếm.

Ngày 13/2/2023, bà T1 có đơn yêu cầu phản tố, buộc bà Hà Thị L phải đền bù giá trị các công trình gia đình bà đã xây dựng trên đất với tổng giá trị là 3.000.000.000 đồng. Ngày 15/6/2023, bà T1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố trên. Bà T1 ủy quyền chị Vũ Thị H thay mặt bà tham gia tố tụng trong vụ án.

Bị đơn - chị Vũ Thị H trình bầy: thửa đất bà L đang khởi kiện hiện nay chỉ có chị và chồng chị là anh Đồng Bá T2 sinh sống. Bà T1 hiện ở cùng với chị gái ở trong làng. Vào năm 1992, chị là người đi cày thửa đất mà bà L đang khởi kiện để trồng hoa màu. Khi đó ông Lý Xuân N1 là đội trưởng khu của Nông T8 đi đo đất để tính thu thuế với diện tích là 1.930 m². Gia đình chị bắt đầu trồng hoa màu toàn bộ diện tích đất này từ năm 1993 đến 2009 thì bố đẻ chị có bán một phần diện tích đất khoảng 1.600m² cho ông T8, họ tên là gì chị không nhớ, sau đó ông T8 bán lại cho những ai thì chị không biết còn hiện nay phần diện tích khoảng 1.600m² đang do ông Võ Nhật T4 sử dụng để trồng cây vải. Số diện tích đất còn lại khoảng 300m² thì bố mẹ chị có xây 01 nhà tạm bằng gạch có 02 gian trên đất để trồng hoa màu của bãi, cho đến năm 2008 nhà 02 gian này bị mục, sập nên vợ chồng chị phá đi để xây dựng nhà 02 tầng mà vợ chồng chị đang sử dụng. Quá trình sử dụng đất, bố mẹ chị là người trực tiếp nộp sản cho đội trưởng của nông trường Cam Bố H3 từ năm 1993 đến năm 2005, nông trường giải thể thì thôi. Sau khi nông trường cam giải thể đến năm 2015 nhà nước về đo đạc đất để cấp giấy chứng nhận cho các hộ dân, hộ nhà chị có được đo đất, chị là người ký biên bản đo đất, kết quả đo diện tích đang sử dụng là 319,9m², nhưng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì bà L có đơn từ nên đến nay chị vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay bà L khởi kiện đòi đất của gia đình chị với diện tích đất là 1.930m² thì chị không đồng ý. Gia đình chị chỉ sử dụng 319,9m² đất sử dụng ổn định đã xây dựng nhà kiên cố là của gia đình chị không phải của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Văn H1 trình bầy: trên thửa đất hiện nay có anh và vợ là bà Đồng Thị M đang sinh sống để làm xưởng gỗ. Năm 2020, vợ chồng anh mua diện tích 244 m² đất của bà T1, ông V với giá 488.000.000 đồng. Sau khi mua, ông xây dựng xưởng gỗ ép trên đất để sử dụng đến nay. Ông xác định khi mua đất nhà bà T1 không có tranh chấp, đất có nguồn gốc là của gia đình bà T1 khai phá từ năm 1992 đến nay là đúng sự thật, từ khi sử dụng đến nay không có tranh chấp với ai, chưa có văn bản thu hồi đất của nhà bà T1 để giao cho người ai. Nay bà L khởi kiện đòi đất của gia đình bà T1 và có phần diện tích đã bán cho ông thì ông không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Mai Xuân T3 trình bầy: trên thửa đất hiện nay có vợ chồng ông đang sinh sống, các con đã trưởng thành ở riêng. Đối với thửa đất bà L khởi kiện có nguồn gốc là ông nhận thầu khoán đất để trồng đỗ của Nông Trường C vào khoảng năm 1991 đến 1992. Ông có ký hợp đồng với nông trường C, cùng thời điểm đó có khoảng 07 hộ cùng nhận khoản khoảng hơn 3.000 m² để nộp sản cho Nông T8 do đội trưởng nông trường là ông Lý Xuân N1 đi đo để tính thu thuế của gia đình ông với diện tích là 1.053,9 m². Hiện ông đã được cấp GCNQSDĐ số BU 663219 ngày 05/6/2014 mang tên vợ chồng ông. Quá trình sử dụng đất gia đình ông là người trực tiếp nộp sản cho đội trưởng của nông Trường. Từ khi nhận khoán đất thì chưa bao giờ thấy bà L đến làm và cũng không biết bà Hà Thị L là ai. Ông sử dụng ổn định không tranh chấp với ai cho đến năm 2003 được cấp giấy chứng nhận và được cấp đổi lại vào năm 2014. Ông không mua bán diện tích đất nào của bà T1 nên ông không liên quan gì đến đât của bà T1. Diện tích đất của ông không nằm trong phần diện tích đất mà bà L khởi kiện. Ông xác định gia đình ông đã khai phá mảnh đất mà hiện nay đang sử dụng từ năm 1992, từ khi sử dụng đến nay không có tranh chấp về đất với ai, chưa có văn bản thu hồi đất để giao ai. Diện tích đất này gia đình ông đã xây dựng nhà kiên cố, không phải đất của bà L nên ông không đồng ý với yêu cầu của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Đồng Bá T2 trình bầy: Anh kết hôn với chị H năm 1995, vợ chồng anh sinh sống trên thửa đất từ khi sử dụng đến nay không có tranh chấp với ai, chưa có văn bản thu hồi đất để giao ai nên anh không đống ý với yêu cầu của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND huyện Y do ông Nguyễn Văn Q đại diện theo ủy quyền trình bầy: về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất 1.930 m2 thuộc các thửa số 121,122, 123 tờ bản đồ số 84 địa chỉ thôn B, xã Đ, huyện Y cũng như việc có giao khoán hoặc nhận giao khoán của Nông trường C trước đấy khi chưa giải thể ... đề nghị Tòa án xác minh làm việc với Chủ tịch UBND xã Đ theo đúng chức năng, thẩm quyền.

Trong 3 thửa đất trên, có thửa đất số 121 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ ngày 05/6/2014 cho ông Mai Xuân T3 và bà Trần Thị L1 trú tại thôn B, xã Đ, huyện Y với tổng diện tích 1053,9m² trong đó có 200m² đất ở và 853,9m² đất trồng cây lâu năm. Việc UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ này là đảm bảo đúng quy định của pháp luật về đất đai. Từ sau khi cấp GCNQSDĐ đến nay, UBND huyện Y không nhận được khiếu nại hay kiến nghị, phản ánh nào của công dân có liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận này.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện căn cứ vào GCNQSDĐ đã được cấp cho ông T3, bà L1 và hiện trạng sử dụng đất đã thẩm định cùng ý kiến của UBND xã Đ về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng, chủ sử dụng đất đối với thửa 122, 123 để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND xã Đ do ông Nguyễn Văn Trọng đại d theo ủy quyền trình bầy: về nguồn gốc đất UBND xã Đ căn cứ vào bản đồ giải thửa can vẽ cấp GCNQSDĐ từ năm 1999- 2001, bản không có dấu, tờ số 15 và bản đồ địa chính chính quy được đo vẽ và sở T12 ký năm 2015 tờ bản đồ địa chính số 84 như sau:

- Thửa đất số 122 căn cứ vào tờ bản đồ địa chính và bản đồ giải thửa lưu tại UBND xã Đ thửa đất số 233, tờ bản đồ số 15, diện tích 412 m², trên thửa đất có ký hiệu tên (T2) và ký hiệu là (T) do UBND xã đang quản lý, theo bản đồ địa chính chính quy thửa đất số 122 tờ bản đồ 84 diện tích 319,9 m², có ký hiệu (ONT) tại thực địa thửa đất số 122 do bà Vũ Thị H và ông Đồng Bá T2 đã xây nhà ở từ năm 1994 và năm 2008 thì xây lại nhà mới. Nguồn gốc đất tự khai phá từ năm 1992 xây nhà ở từ năm 1994. Thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ.

- Thửa đất số 123 do bà H sử dụng, nguồn gốc đất hộ bà H tự khai hoang từ năm 1992. Kiểm tra hiện trạng thửa đất trên do ông Lê Văn H1 đã xây hàng rào cay ngăn cách và đang sử dụng làm nhà xưởng chứa ván gỗ bóc còn lý do tại sao ông H1 đang sử dụng (do các bên mua bán chuyển nhượng) thì không rõ. Cả 2 thửa đất trên đều chưa được cấp GCNQSDĐ và do UBND xã đang quản lý.

- Theo bản đồ địa chính chính quy thửa đất số 121, tờ số 84, diện tích 1048,9 m², thửa đất có ký hiệu ONT, tên ông Mai Xuân T3, hiện ông T3 đang ở và sử dụng, qua đối chiếu với bản đồ và kiểm tra thực địa thể hiện thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ cho ông T3 từ năm 2014.

- Về ông Võ Nhật T4 hiện tại vắng mặt tại địa phương, theo bản đồ địa chính chính quy thửa đất 149, tờ 84, diện tích 17408.7 m², qua kiểm tra hiện trạng ông T4 đã hợp nhiều thửa đất nhỏ xung quanh thành một thửa số 149 và đã được cấp GCNQSDĐ.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lưu trữ tại UBND xã, hộ ông T4 đang sử dụng thửa đất số 149, tờ số 84, diện tích 17408.7 m² và hộ ông T3 đang sử dụng thửa đất số 121, tờ số 84, diện tích 1048.9 m², cả 02 hộ đã được cấp GCNQSDĐ. Còn thửa đất số 122, tờ 84, diện tích 319.9m² và thửa đất số 123 tờ số 84 diện tích 204.6 m², do bà H khai hoang và làm nhà ở hiện bà H đang sử dụng và chưa được cấp GCNQSDĐ.

Đối chiếu với danh sách đất nông trường cam trả về địa phương lưu tại UBND xã thì cả 4 hộ trên không có tên trong danh sách nhận khoán và giao đất, danh sách lấn chiếm đất của nông trường Cam Bố H3 trả về năm 2007.

Qua kiểm tra trong danh sách bàn giao đất về địa phương có tên bà Hà Thị L tại Quyển tài liệu trang số 42 có ghi các hộ gia đình cá nhân nhận khoán đất của nông trường Bố Hạ, số thứ tự 58 có ghi bà Hà Thị L, Đồi Hồng, tờ số 3, thửa số 1 diện tích giao 1.900m², diện tích nhà 200m², mục đích sử dụng vải và nhà. Hiện tại UBND xã không có tờ bản đồ trên để xác định vị trí thửa đất.

Phạm Thị T9 - nguyên kế toàn Nông trường B cung cấp: Bà là công nhân từ năm 1984 đến năm 2004 và bà làm kế toán từ năm 2004 đến năm 2007, trong thời gian thời công tác tại nông trường thì thửa đất các bên đang tranh chấp bà có biết vào năm 1990 nông trường cam giao khoán (khoán gọn) cho công nhân nông trường để sản xuất, nộp sản phẩm cho Nông T8 theo khoán và nộp cho Đội trưởng trực tiếp quản lý khu để nộp cho nông trường. Tại thời điểm giao đất khoán thì ông Trần Đức Đ1 và bà M1 là kế toán. Năm 1998 nông trường có giao cho bà Hà Thị L diện tích đất ghi trong hợp đồng giao khoán, giao để trồng đỗ và nộp sản phẩm, sau đó bà L cho ai mượn hay thuê thì nông trường không quản lý, chỉ biết nông trường nhận sản phẩm đủ là được, nguời nộp sản phẩm là ông Lý Xuân N1. Đến ngày 31/12/2005 nông trường giải thể thanh lý tất cả các hợp đồng. Tại thời điểm đó các hợp đồng giao khoán còn thời hạn hay chưa hết đến hạn ghi trong hợp đồng đều thanh lý hết, các hợp đồng đã ký giao khoán đều không còn giá trị. Bà là kế toán Nông trường thực hiện thanh lý tất cả hợp đồng để Nông trường bàn giao toàn bộ diện tích đất về cho UBND xã Đ quản lý.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: ông Võ Nhật T4, bà Đồng Thị M, bà Trần Thị L1 đều không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, không hợp tác theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/TCDS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã: căn cứ Điều 166; Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L về việc buộc bà Trịnh Thị T1, chị Vũ Thị H trả lại diện tích đất là 1.930 m² tại các thửa 121,122, 123, tờ bản đồ số 84. Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Trịnh Thị T1 việc buộc bà Hà Thị L phải đền bù giá trị các công trình trên đất với tổng giá trị là 3.000.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 09/10/2023, bà L kháng cáo toàn bộ bản án với lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì không triệu tập những người tại thời điểm giao đất cho gia đình bà, những người mua đất của gia đình bà T1, chị H tham gia tố tụng. Tòa sơ thẩm nhận định thửa đất tranh chấp là do đình bà T1, chị H tự khai phá và tiến hành trộng màu là không phù hợp với thực tế khách quan vì bà là công nhân lâm trường, có hợp đồng giao khoán. Tại phiên tòa phúc thẩm ông N đại diện theo ủy quyền của bà L đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, ông N trình bày toàn bộ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của bà L hiện do UBND xã Đ và cơ quan tài nguyên môi trường lưu giữ, ông không có để cung cấp cho Tòa án. Thực tế đất này nhà nước đã giao cho bà L sau khi hết hợp đồng giao khoán với Lâm trường năm 2005. Chị H, bà T1 không phải là người khai phá đất mà bà L cho bà T1 thuê và phải trực tiếp nộp sản cho Lâm trường. Đề nghị HĐXX xem xét.

Chị H trình bày thực tế chị là người trực tiếp khai phá đất từ năm 1991, đến năm 1994 gia đình chị xây nhà và ở trên đất này cho đến nay, không có việc đất này của bà L cho bà T1 và chị T10 khoán như ông N trình bày, chưa khi nào gia đình bà L đến quản lý, sử dụng diện tích đất này nên không đồng ý với các ý kiến trên của ông N.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà L, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã dược triệu tập nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. HĐXX căn cứ khoản2, 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của bà L, HĐXX thấy:

[2.1]. Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu bà T1, chị H phải trả bà 1.930 m² đất tại thôn B, xã Đ, huyện Y theo hợp đồng Nông trường giao khoán cho bà. Bà xác định phần diện tích đất 1.930 m² gia đình bà H đang quản lý 1 phần, phần còn lại là ông T3, ông H1, ông T4 quản lý nhưng bà không xác định được vị trí diện tích đất mà họ đang quản lý của bà là bao nhiêu. Nên bà chỉ khởi kiện bà T1, chị H trả lại bà 1.930 m² đất, ngoài ra bà không đòi thêm diện tích nào khác.

[2.2]. Căn cứ để bà L khởi kiện là hợp đồng giao khoán đất do giám đốc Nông trường ký giao khoán cho bà là công nhân nông trường vào tháng 9/1998. Nội dung hợp đồng kinh tế số 263 là giao khoán đất trồng mới vải thiều theo đó: bên giao khoán có ông Trần Đức Đ1 - giám đốc nông trường, bà Vũ Thị M2 - Tài vụ nông trường, ông Lý Xuân N1 – Đội trường Đ3; bên nhận khoán là bà Hà Thị L - công nhân sản xuất Đồi H4. Trong hợp đồng thể hiện nông trường khoán gọn kể từ vụ T11 năm 1998 đến hết năm 2021 là kết thúc chu kỳ giao khoán, sau năm 2021 nông trường và người nhận khoán thỏa thuận chu kỳ khoán tiếp theo. Như vậy, hợp đồng kinh tế số 263, giao khoán đất trồng mới vải thiều vào năm 1998 với diện tích 1.930 m² tại thôn B, xã Đ, huyện Y giao khoán đất cho công nhân nhằm mục đích trồng mới vải thiều và nộp sản phẩm, thuế cho Nông T8, không phải là quyết định giao đất, cho thuê đất.. Từ khi được giao khoán đất, bà L không trực tiếp sử dụng, đất, không trồng vải thiều trên diện tích đất được giao khoán theo hợp đồng mà người trực tiếp khai thác, sử dụng đất là gia đình bà T1, sau đó là gia đình chị H, anh T2. Quá trình sử dụng thửa đất bà T1 có xây 01 nhà tạm bằng gạch trên đất để trồng hoa màu của bãi. Năm 2008, nhà 02 gian này bị mục, sập nên vợ chồng chị H phá đi để xây dựng nhà ở cấp 3 loại 2 (Công trình khép kín từ tầng 1 đến tầng 3, có kết cấu khung chịu lực xây dựng năm 2008); nhà bếp, nhà ki ốt (nhà xe); tường rào gạch chỉ, sân lát gạch lá men, sân vôi, giếng khoan, bể bioga, cổng sắt, chuồng chăn nuôi, tường hoa + trụ cột, mái tôn hiện vợ chồng chị H vẫn đang trực tiếp quản lý sử dụng đất và các tài sản trên đất.

[2.3]. Bà L trình bày bà cho bà T1 mượn toàn bộ diện tích đất để sản xuất nhưng bà L không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc cho mượn đất. Việc Nông T8 giao khoán đất cho bà L năm 1998 là giao cho công nhân để canh tác, nộp sản phẩm cho nông trường nhưng thực tế bà L không thực hiện nội dung theo thỏa thuận của hợp đồng. Căn cứ vào điểm c khoản 2 mục III Quyết định số 201- CP ngày 01-7-1980 của Hội đồng Chính phủ thì khi không sử dụng đất, người sử dụng đất phải trả lại phần đất không sử dụng cho nhà nước. Quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán, sau khi giải thể, nông trường thanh lý tất cả các hợp đồng, tại thời điểm đó các hợp đồng giao khoán còn thời hạn hay chưa hết đến hạn ghi trong hợp đồng đều thanh lý hết và bàn giao toàn bộ diện tích đất về cho UBND xã Đ quản lý.

[2.4]. Ngày 31/8/2006, UBND tỉnh B có quyết định số 1308/QĐ - UBND về việc phê duyệt phương án giải thể Nông trường B. Theo Điều 1 của Quyết định thể hiện tiến hành thanh lý 575 hợp đồng giao khoán đất với các hộ gia đình, thời điểm thanh lý từ 31/12/2005, thu hồi 502,20 ha đất nông trường quản lý giao cho chính quyền địa phương quản lý. Tại mục 1.5 khoản 1 Điều 1 của Quyết định số 1949 ngày 06/12/2006 của UBND tỉnh B về điều chỉnh một số nội dung phương án giải thể Nông trường B đã xác định diện tích đất thu hồi của Nông trường giao cho UBND xã Đ quản lý toàn bộ diện tích của Nông trường thuộc địa giới hành chính xã Đ. Như vậy, sau khi giải thể nông trường B, tại thời điểm đó các hợp đồng còn thời hạn hay chưa hết đến hạn ghi trong hợp đồng đều thanh lý, nông trường bàn giao toàn bộ diện tích đất về cho UBND xã quản lý trong đó có tên bà Hà Thị La . Điều đó cho thấy diện tích đất đã giao khoán cho bà L năm 1998 đã được thanh lý để trả về địa phương quản lý, đồng nghĩa với việc người công nhân không còn quyền khai thác, sử dụng đất kể từ thời điểm Nông trường giải thể và thanh lý cũng như các hợp đồng đã ký đều không được tiếp tục thực hiện.

[2.5]. Đại diện UBND xã Đ và đại diện UBND huyện Y khẳng định thửa đất số 121 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ ngày 05/6/2014 cho ông T3 và bà L1 đúng quy định pháp luật. Thửa đất số 122, tờ 84, diện tích 319,9m² và thửa đất số 123 tờ số 84 diện tích 204,6 m², do chị H, anh T2 sinh sống trên đất và chưa được cấp GCNQSDĐ nên vẫn thuộc quyền quản lý của UBND xã Đ. Bà L không xác định ranh giới diện tích bà được nhận giao khoán năm 1998, UBND xã Đ không còn hồ sơ, sổ sách liên quan để xác định vị trí, ngoài hợp đồng giao khoán đất thì bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì khác, bà L cũng không trực tiếp sử dụng đất, hợp đồng giao khoán đã được thanh lý khi nông trường giải thể, thửa đất được bàn giao về cho UBND xã Đ quản lý. Tòa án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ.

[2.6] Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà Hà Thị L về việc đề nghị Tòa án xem xét hủy GCNQSDĐ số BU 663219, số vào sổ cấp GCN: CH00471 do UBND huyện Y cấp ngày 05/6/2014 cho vợ chồng ông T3 và bà L1. Tại phiên tòa sơ thẩm bà L không yêu cầu nên HĐXX sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.

[2.7]. Đối với yêu cầu phản tố của bà T1 về việc buộc bà L phải đền bù giá trị các công trình gia đình bà đã xây dựng trên đất với tổng giá trị là 3.000.000.000 đồng. Ngày 15/6/2023, bà T1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố trên. HĐXX sơ thẩm quyết định đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bà T1 là đúng pháp luật.

Từ đó những phân tích trên, HĐXX thấy, Bản án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bà L do ông N đại diện theo ủy quyền không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện cũng như kháng cáo của mình. Vì vậy kháng cáo của bà L không có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; khoản 2 Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: bà L là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị La . Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 68/2023/TCDS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

2.Về án phí: bà Hà Thị L được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 125/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger