Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 125/2024/ HS - ST

Ngày 06 – 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi
  2. Bà Hoàng Thị Phụng

- Thư ký phiên Tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với: Bị cáo Trần Duy M, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2005 tại Hà Nam. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Trần Thị H. Vợ, con: chưa. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

*Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc B:

  1. Phạm Thị M1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị M2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

Chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).

4. Chị Nguyễn Thị M3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà M1, chị M2, anh B1, chị M3: Anh Phạm Lương N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Đức T, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Trần Duy M (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích khác) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn trắng, biển số đăng ký 90B4 - 051.66 chở theo anh Trần Đức T từ nhà của M ở thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam sang tỉnh Thái Bình để giao hàng. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, M điều khiển xe mô tô đi trên đường C rẽ vào đường vành đai phía nam giao với đường L, lúc này trời tối, đường khô, thời tiết không mưa. Khi đi đến khu vực đường vành đai phía nam, mặt đường rải nhựa áp phan và được chia thành hai chiều đường riêng biệt được phân biệt bằng dải phân cách cố định rộng 3,0 mét, chiều đường từ đường C đi ngã tư đường vành đai phía nam giao với đường L và ngược lại. Chiều đường từ đường C đi ngã tư đường vành đai phía nam giao với đường L được chia thành hai làn đường được phân biệt vạch đơn, đứt nét màu trắng, ngắt đoạn, từ ngoài vào trong. M điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 50 km/h trên đường vành đai phía nam quan sát phía trước khoảng 40 mét có biển báo “Giao nhau với đường không ưu tiên” đặt ở lề đường bên phải đường vành đai phía nam, M không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe đi qua biển báo hướng về ngã tư đường vành đai phía nam giao với đường L. Khi đi đến khu vực ngã tư đường vành đai phía nam giao với đường liên thôn thuộc địa phận thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, M

điều khiển xe giữ nguyên tốc độ, cách dải phân cách khoảng 2 mét, M quan sát thấy phía trước khoảng 15 mét có xe máy điện biển số đăng ký 17MÐ9 - 102.41 do ông Nguyễn Ngọc B điều khiển xe từ đường liên thôn của thôn T, xã V, thành phố T cắt ngang để sang đường đi thôn T, xã V, thành phố T. Do không chấp hành báo hiệu giao thông đường bộ, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn khi vào đường giao nhau nên mặt má lốp bánh trước bên phải xe mô tô do M điều khiển va chạm với ốp nhựa bàn để chân trước bên trái và mặt ngoài giá đỡ chân chống dưới bên trái xe máy điện do ông B điều khiển làm xe mô tô, xe máy điện, M, anh T và ông B đổ ngã trượt rê trên đường về phía trước khoảng 10 mét. Hậu quả: M bị thương đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh T, anh T bị ngã nhưng xây xước nhẹ phần mềm. Ông B bị đa chấn thương đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh T cùng ngày chuyển lên bệnh viện H1, thành phố Hà Nội để điều trị đến ngày 09/01/2024 xuất viện về gia đình và tử vong tại gia đình ngày 09/01/2024.

- Tại bản kết luận giám định số 52/KLGĐTT-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Trên tử thi có các vết sây sát da, rách da, trợt da, sưng nề tụ máu tại vùng đầu, mặt, vai, lưng, tay và chân. Vỡ xương sọ vùng chẩm thái dương bên trái, chảy máu não. Nạn nhân Nguyễn Ngọc B chết do chấn thương sọ não.

- Tại phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 17 giờ 58 phút ngày 08/01/2024, nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Ngọc B là dưới ngưỡng phát hiện.

- Tại phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 18 giờ 23 phút ngày 08/01/2024, nồng độ cồn trong máu của Trần Duy M là dưới ngưỡng phát hiện.

- Tại bản cáo trạng số 125/CT- VKSTPTB ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Duy M về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

-Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Duy M về tội danh và điều luật như bản cáo trạng số 125/CT- VKSTPTB ngày 28/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Duy M.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy M phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  1. Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Duy M 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Duy M thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà M1, chị M2, anh B1 và chị M3 tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên. Anh Trần Đức T không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tài sản bị xâm phạm nên không giải quyết. Chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm nên không phải giải quyết và ngoài ra đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Tại phiên Tòa, bị cáo Trần Duy M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội. Bị cáo Trần Duy M nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; bản kết luận giám định số 52/KLGĐTT-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; bản ảnh tử thi; giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 121/CN lập ngày 12/01/2024; phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 17 giờ 58 phút ngày 08/01/2024, nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Ngọc B là dưới ngưỡng phát hiện; phiếu kết

quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 18 giờ 23 phút ngày 08/01/2024, nồng độ cồn trong máu của Trần Duy M là dưới ngưỡng phát hiện. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 55 ngày 08/01/2024, Trần Duy M không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích khác điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn trắng biển số đăng ký 90B4 - 051.66 chở theo anh Trần Đức T đi trên đường vành đai phía Nam hướng đường L. Khi đi đến ngã tư vành đai phía nam giao đường liên thôn của thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do không chấp hành báo hiệu giao thông đường bộ, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên mặt má lốp bánh trước bên phải xe mô tô do M điều khiển va chạm với ốp nhựa bàn để chân trước bên trái và mặt ngoài giá đỡ chân chống dưới bên trái xe máy điện do ông Nguyễn Ngọc B điều khiển cắt ngang để sang đường từ thôn T, xã V hướng sang đường đi thôn T, xã V, thành phố T. Hậu quả ông B tử vong ngày 09/01/2024 tại gia đình do bị đa chấn thương, chấn thương sọ não. Bị cáo Trần Duy M đã vi phạm đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 11; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (Quy định cụ thể tại khoản 3, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) làm chết 01 người. “Điều 8. Luật giao thông đường bộ quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm...9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định. Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng...23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. “Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ 1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ………” “Điều 12. Luật giao thông đường bộ quy định: Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe 1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo...”. “Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G: Các trường hợp phải giảm tốc độ Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1...3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;”. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Duy M đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại

điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
  2. a, Không có giấy phép lái xe theo quy định;

...

  1. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3]. Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Trần Duy M không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không chấp hành báo hiệu giao thông đường bộ, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên mặt má lốp bánh trước bên phải xe mô tô do M điều khiển va chạm với ốp nhựa bàn để chân trước bên trái và mặt ngoài giá đỡ chân chống dưới bên trái xe máy điện do ông Nguyễn Ngọc B điều khiển. Hậu quả ông B tử vong ngày 09/01/2024 tại gia đình do bị đa chấn thương, chấn thương sọ não. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Duy M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:

[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[4.2].Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.3]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà M1, chị M2, anh B1 và chị M3 số tiền 110.000.000 đồng. Tại phiên Tòa đại diện hợp pháp của hai gia đình đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại cũng có lỗi đi từ đường không ưu tiên giao với đường ưu tiên không chú ý quan sát để nhường đường. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự. Bị cáo Trần Duy M được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[5]. Về quyết định hình phạt:

[5.1]. Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Duy M. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5.2]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Duy M.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Duy M thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà M1, chị M2, anh B1 và chị M3 tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên. Anh Trần Đức T không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường sức khỏe, tài sản bị xâm phạm nên không giải quyết. Chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm nên không phải giải quyết.

[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8]. Về vật chứng của vụ án:

[8.1]. Đối với mô tô biển số 90B4 - 051.66, nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn T1 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 90 000341 mang tên Trần Đức T, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Trần Đức T, sinh năm 2005, trú tại: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam. Ngày 03/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên và giấy đăng ký xe cho ông Trần Đức T2, sinh năm 1976, trú tại: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam là bố đẻ anh T và được anh T ủy quyền. Anh Tú và gia đình không có yêu cầu bồi thường đối với chiếc xe trên.

[8.2]. Đối với chiếc máy điện biển số 17MĐ9 - 102.41, nhãn hiệu DIBAO, màu sơn Đ - Xám và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 041955 mang tên Nguyễn Thị Thùy L, địa chỉ: thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2004, trú tại: thôn T, xã V, thành phố T tỉnh Thái Bình, chị L cho

ông ngoại là Nguyễn Ngọc B mượn chiếc xe máy điện để đi lại hàng ngày. Ngày 03/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên và Giấy đăng ký xe anh Phạm Lương N, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình đại diện cho chị Nguyễn Thị Thùy L. Do xe chỉ bị hư hỏng nhẹ, chị L và gia đình không đề nghị định giá, không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên.

[9]. Các vấn đề khác của vụ án: Đối với anh Trần Đức T, quá trình tai nạn giao thông anh T chỉ bị thương tích nhẹ. Anh Tú không yêu cầu giám định thương tích cũng không yêu cầu anh Trần Duy M phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Đối với hành vi giao xe của anh Trần Đức T cho anh Trần Duy M điều khiển: Anh Tú không biết bị cáo M có giấy phép lái xe theo quy định hay chưa, bị cáo M cũng không nói gì cho anh T biết về việc bị cáo M chưa có giấy phép lái xe theo quy định nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh T. Đối với hành vi điều khiển xe mô tô của anh Trần Đức T chưa có giấy phép lái xe theo quy định từ nhà anh T sang nhà để đón bị cáo M trên địa bàn huyện L, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã ban hành công văn đề nghị Công an huyện L, tỉnh Hà Nam xử lý theo quy định của pháp luật.

[10]. Về án phí: Bị cáo Trần Duy M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy M phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Duy M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Duy M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

"Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới".

  1. Về trách nhiệm dân sự:
  2. 3.1. Chấp nhận thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm của bị cáo Trần Duy M đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà M1, chị M2, anh B1 và chị M3 tổng số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng). Hai bên đã giao nhận xong số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm trên.

    3.2. Anh Trần Đức T không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường sức khỏe, tài sản bị xâm phạm nên không giải quyết.

    3.3. Chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu bị cáo Trần Duy M bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm nên không phải giải quyết.

  3. Về vật chứng:
  4. 4.1. Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình trả lại mô tô biển số 90B4 - 051.66, nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn T1 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 90 000341 mang tên Trần Đức T, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam chon anh Trần Đức T.

    4.2. Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố T trả lại chiếc máy điện biển số 17MĐ9 - 102.41, nhãn hiệu DIBAO, màu sơn Đ - Xám và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 041955 mang tên Nguyễn Thị Thùy L, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình cho chị Nguyễn Thị Thùy L.

  5. Về án phí: Bị cáo Trần Duy M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Duy M, chị M3, anh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2024). Bà M1, chị M2, anh B1. Anh Tú và chị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a về thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định

của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • -Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Duy M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger