Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH VĨNH LONG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 8 – 2024

“ V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Thu Hà.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 114/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXX - ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm: 1977 (Vắng, có đơn).

Địa chỉ cư trú: ấp An Hậu, xã Trung An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Trần Quốc C, sinh năm: 1973 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp An Phước, xã Trung An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C hôn nhân hình thành do tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung An vào ngày 29/12/2002.

Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cự cải, dần lâu tình cảm phai nhạt. Anh C đã bỏ nhà đi từ năm 2011 đến nay và chị và anh C cũng đã ly thân từ đó. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Chị và anh C có con chung tên Trần Thanh Hoàng, sinh ngày 01/12/2001. Hiện con đã thành niên nên chị không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Quốc C vắng mặt tại phiên Tòa không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị T và anh C, anh C có nơi cư trú tại ấp An Phước, xã Trung An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

[2] Xét thấy, nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Xét việc bị đơn anh C được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa chị T anh C có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị T anh C có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải, hai người đã ly thân từ năm 2011 đến nay, từ đó dẫn đến tình cảm dần phai nhạt. Tòa án đã triệu tập anh C nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng anh C cố tình tránh né không đến Tòa án. Từ đó, cho thấy anh C không có thiện C hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Mặt khác; trong quan hệ hôn nhân nếu muốn sống hạnh phúc thì hôn nhân phải xuất phát từ tình cảm hai phía. Tuy nhiên chị T cho rằng không còn tình cảm với anh C. Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa chị T anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì thời gian chị T anh C ly thân khá lâu; nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh C là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.1] Về con chung: Chị T anh C có 01 con chung tên Trần Thanh Hoàng, sinh ngày 01/12/2001 hiện nay cháu Hoàng đã thành niên phát triển bình thường nên chị T không yêu cầu giải quyết. Hội đồng đồng xét xử không xem xét.

[3.2] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh C không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh C không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu số tiền án phí là: 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Trần Quốc C.
  2. Về con chung: Đã thành niên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh Trần Quốc C không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh Trần Quốc C không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí:
    • + Chị Võ Thị T phải nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số Nº 0008834, ngày 04/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, chị Võ Thị T đã nộp đủ không phải nộp thêm.
    • + Anh Trần Quốc C không phải nộp án phí.

    - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện V;
  • - Chi cục THADS huyện V;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Mỡn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger