Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày: 05-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Rạng Đông.

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà:

Bà Nghiêm Ngọc Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Ó, sinh năm 1992, tại Tp ., Kiên Giang;

Tên gọi khác: Không;

Nơi ĐKHKTT: 134/13/3 C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: Không có nơi ở ổn định; Trình độ văn hóa: Không biết chữ;

Nghề nghiệp: Không;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Danh H (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc B (đã chết);

Tiền án: Bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Về nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về trộm cắp tài sản, chưa thi hành về dân sự, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  2. Bà Võ Thị Thùy D, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  3. Ông Trần Nhựt D1, sinh năm 2001 (có đơn xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  4. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 06/01/2024 đến ngày 14/01/2024, do không có nghề nghiệp bị cáo Nguyễn Văn Ổ rủ Nguyễn Tuấn A trộm cắp tài sản của người dân trên địa bàn phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nhiều lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, bị cáo Ổ đi chơi về đến đoạn đường gần khu chợ thuộc khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì nhìn thấy chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 68P6-5415 do bà Hồ Thị T là chủ sở hữu (nhưng hiện chiếc xe này bà T đã bán cho một người khác nhưng không xác định được nhân thân) đang để phía trước quán “Minh T1” trên xe có sẵn chìa khóa nên bị cáo Ổ nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo Ổ đi đến lấy trộm xe điều khiển chạy về phòng trọ đang thuê ở thuộc khu phố F, phường A cất giấu, trên đường đi bị cáo Ổ bẻ biển số xe quăng bỏ xuống biển. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo Ổ lấy biển số 67T2-0850 đã mua của một người bán phế liệu trước đó gắn vào xe mô tô vừa trộm được bán cho Nguyễn Tuấn A 1.200.000 đồng, Tuấn A không biết xe trộm cắp. Tuấn A mới đưa cho bị cáo Ổ được 400.000 đồng, tiền bán xe Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 08/01/2024, bị cáo Ổ điện thoại nói với Nguyễn Tuấn A khi nào trộm được xe mô tô thì điện cho Tuấn A đến để đẩy xe lấy trộm về bán lấy tiền tiêu xài thì Tuấn A đồng ý. Đến khoảng 01 giờ, ngày 09/01/2024, bị cáo Ổ đi bộ đến khu vực B thuộc tổ H, khu phố D, phường A nhìn thấy trước sân nhà của anh Nguyễn Thành L có nhiều xe mô tô đang để phía trước sân nhà, bị cáo Ổ đi vào lấy trộm chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 68P5-5075 của anh L dắt ra ngoài, bị cáo Ổ gọi điện thoại kêu Nguyễn Tuấn A đến đẩy xe vừa trộm cắp được về phòng trọ của bị cáo Ổ. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe mô tô Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 67T2-0850 của Tuấn A đến cùng bị cáo Ổ đẩy chiếc xe vừa trộm được về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo Ổ bán xe cho một người đàn ông không rõ nhân thân đi mua phế liệu dọc đường được 700.000 đồng, bị cáo Ổ đưa cho Tuấn A 200.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết. Riêng Tuấn A đã tiêu xài cho cá nhân hết.

Lần thứ ba: Vào khoảng 01 giờ ngày 12/01/2024, bị cáo Ổ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, không rõ biển số của bị cáo Ổ đến phòng trọ của Tuấn A thuê ở thuộc khu phố F, phường A rủ Tuấn A đi tìm xe trộm cắp, Tuấn A đồng ý. Tuấn A điều khiển xe mô tô V chở bị cáo Ổ chạy đến khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị K thuộc khu phố F, phường A, Tuấn A đứng ngoài canh đường, bị cáo Ổ đi vào trong dãy nhà lấy trộm chiếc xe mô tô loại Wave, màu xanh, biển số 67K7-8093 của chị Võ Thị Thùy D đang để trước phòng trọ dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe vừa trộm được về phòng trọ bị cáo Ổ cất giấu.

Lần thứ tư: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ của bị cáo Ổ chở Ổ chạy đến gần nhà trọ “T" thuộc khu phố F, phường A, Tuấn A đứng ngoài canh đường, bị cáo Ổ đi vào bên trong khu nhà trọ lấy trộm chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 74F4-2801 của anh Trần Nhựt D1 đang để trước phòng trọ dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe vừa lấy trộm được về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Đến 07 giờ cùng ngày, bị cáo Ổ bán chiếc xe loại Wave, màu xanh, biển số 67K7-8093 vừa lấy trộm được của chị Võ Thị Thùy D và chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 74F4-2801 của anh Trần Nhựt D1 cho một người đàn ông không rõ nhân thân đi mua phế liệu được số tiền 1.400.000đ, bị cáo Ổ chia cho Tuấn A 500.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết. Riêng Tuấn A cũng tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ năm: Vào khoảng 01 giờ ngày 14/01/2024, Tuấn A điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển 67T2-0850 của Tuấn A chở bị cáo Ổ chạy đến trước nhà chị Trần Thị H2 thuộc khu phố F, phường A, Tuấn A đứng ngoài canh đường, bị cáo Ổ đi vào lấy trộm chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen biển số 68P1-293.37 của chị H2 đang đậu trước nhà dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe mô tô bị cáo Ổ vừa lấy trộm về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Sau đó bị cáo Ổ sợ bị phát hiện nên đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ của bị cáo Ổ cho một người phụ nữ không rõ nhân thân được 3.000.000 đồng rồi bỏ trốn đi về nhà bị cáo Ổ tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Ngày 15/01/2024, Tuấn A đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố P đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yama loại Sirius, màu đỏ đen biển số 68P1-29337. Ngày 24/01/2024, Nguyễn Tuấn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra. Đến ngày 25/3/2024, bị cáo Ổ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố P đầu thú. Ngày 28/3/2024, bị cáo Ổ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra đến nay.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, số máy 5C6J1564499, số khung C6J0FY156506, biển số 68P1-293.37, đã qua sử dụng (xe thu giữ của Nguyễn Thị H1);
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, số máy 5C64-269967, số khung RLCS5C640AY26994, có gắn biển số 67T2-0850, đã qua sử dụng (của Nguyễn Tuấn A);
  • 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu OPPO F9, dung lượng 64GB, màu tím, đã qua sử dụng (của Nguyễn Tuấn A).
  • Riêng điện thoại di động của Nguyễn Văn Ổ đã bị mất; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, không rõ biển số của Nguyễn Văn Ổ đã bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân; biển số xe 68P6-5415, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS, ngày 20/02/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố P, kết luận:

  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đỏ đen, số máy: 5C6J156499, số khung: C6J0F156506, biển số 66P1- 29337, mua và sử dụng vào khoảng tháng 11/2015, có giá trị là 7.833.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS, ngày 11/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố P, kết luận:

  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, số máy: 5C64-269967, số khung: RLCS5C640AY26994, gắn biển số 66P6- 5415, mua cũ và sử dụng tháng 5/2011, có giá trị là 4.866.667 đồng;
  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu NAVAL, loại Dream, màu nâu, số máy: 50FMG-001402, số khung: OUM7XU01402, biển số 68P5- 5075, mua cũ và sử dụng vào khoảng tháng 12/2013, có giá trị là 2.033.333 đồng;
  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu DARLING, loại Dream, màu nâu, số máy: 50FMG3*10478260, số khung: FDL100*10478116, biển số 74P4- 2801, mua cũ và sử dụng vào 31/01/2017, có giá trị là 1.833.333 đồng;
  • 01 xe mô tô, nhãn hiệu MAJESTY, loại Wave, màu xanh, số máy: 136748, số khung: 136748, biển số 67K7- 8093, mua cũ và sử dụng khoảng tháng 3/2021, có giá trị là 2.200.000 đồng.

Tổng cộng: 10.933.333 đồng. Giá trị được làm tròn là: 10.933.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSPQ ngày 16 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Ổ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bồi thường, Nguyễn Tuấn A đã bồi thường cho ông Nguyễn Thành L 1.000.000 đồng, bà Võ Thị Thùy D 1.100.000 đồng. Bị hại Trần Nhựt D1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Bị hại Võ Thị Thùy D có yêu cầu bị cáo Ổ bồi thường số tiền 1.100.000 đồng, bị cáo Ổ đồng ý, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Ổ bồi thường cho bà D số tiền 1.100.000 đồng. Buộc bị cáo Ổ nộp lại số tiền bán chiếc xe máy Honda, loại V là 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, số máy 5C64-269967, số khung RLCS5C640AY26994, có gắn biển số 67T2-0850 và 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu OPPO F9, dung lượng 64GB, màu tím, đã qua sử dụng (của Nguyễn Tuấn A).

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/6/2024.

Đối với Nguyễn Tuấn A bỏ trốn trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy nã bị can Tuấn A, ra quyết định tách vụ án và quyết định tạm đình chỉ vụ án, khi nào bắt được Tuấn A xử lý sau.

Đối người đàn ông chưa rõ nhân thân mua xe của bị cáo Ổ trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Ổ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Ổ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Ổ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định từ ngày 06/01/2024 đến ngày 14/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn Ổ cùng với Nguyễn Tuấn A 05 lần trộm cắp tài sản của người dân trên địa bàn phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, bị cáo Ổ trộm xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 68P6-5415 do bà Hồ Thị T là chủ sở hữu (nhưng hiện chiếc xe này bà T đã bán cho một người khác nhưng không xác định được nhân thân) bán cho Nguyễn Tuấn A 1.200.000 đồng. Tuấn A đưa cho bị cáo Ổ được 400.000 đồng, tiền bán xe Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 08/01/2024, bị cáo Ổ trộm chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 68P5-5075 của anh L, bị cáo Ổ gọi điện thoại kêu Nguyễn Tuấn A đến đẩy xe vừa trộm cắp được về phòng trọ của bị cáo Ổ. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe mô tô Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 67T2-0850 của Tuấn A đến cùng bị cáo Ổ đẩy chiếc xe vừa trộm được về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo Ổ bán xe cho một người đàn ông không rõ nhân thân đi mua phế liệu dọc đường được 700.000 đồng, bị cáo Ổ đưa cho Tuấn A 200.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết. Riêng Tuấn A đã tiêu xài cho cá nhân hết.

Lần thứ ba: Vào khoảng 01 giờ ngày 12/01/2024, bị cáo Ổ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, không rõ biển số của bị cáo Ổ đến phòng trọ của Tuấn A thuê ở thuộc khu phố F, phường A rủ Tuấn A đi tìm xe trộm cắp, Tuấn A đồng ý. Tuấn A điều khiển xe mô tô V chở bị cáo Ổ chạy đến khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị K thuộc khu phố F, phường A, bị cáo Ổ đi vào trong dãy nhà lấy trộm chiếc xe mô tô loại Wave, màu xanh, biển số 67K7-8093 của chị Võ Thị Thùy D đang để trước phòng trọ dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe vừa trộm được về phòng trọ bị cáo Ổ cất giấu.

Lần thứ tư: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ của bị cáo Ổ chở Ổ chạy đến gần nhà trọ “T" thuộc khu phố F, phường A, Tuấn A đứng ngoài canh đường, bị cáo Ổ đi vào bên trong khu nhà trọ lấy trộm chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 74F4-2801 của anh Trần Nhựt D1 đang để trước phòng trọ dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe vừa lấy trộm được về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Đến 07 giờ cùng ngày, bị cáo Ổ bán chiếc xe loại Wave, màu xanh, biển số 67K7-8093 vừa lấy trộm được của chị Võ Thị Thùy D và chiếc xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 74F4-2801 của anh Trần Nhựt D1 cho một người đàn ông không rõ nhân thân đi mua phế liệu được số tiền 1.400.000đ, bị cáo Ổ chia cho Tuấn A 500.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo Ổ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày hết. Riêng Tuấn A cũng tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ năm: Vào khoảng 01 giờ ngày 14/01/2024, Tuấn A điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển 67T2-0850 của Tuấn A chở bị cáo Ổ chạy đến trước nhà chị Trần Thị H2 thuộc khu phố F, phường A, Tuấn A đứng ngoài canh đường, bị cáo Ổ đi vào lấy trộm chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen biển số 68P1-293.37 của chị H2 đang đậu trước nhà dẫn ra ngoài cùng Tuấn A đẩy xe mô tô bị cáo Ổ vừa lấy trộm về phòng trọ của bị cáo Ổ cất giấu. Sau đó bị cáo Ổ sợ bị phát hiện nên đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ của bị cáo Ổ cho một người phụ nữ không rõ nhân thân được 3.000.000 đồng rồi bỏ trốn đi về nhà bị cáo Ổ tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Ổ và Nguyễn Tuấn A trộm được là 18.766.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo Ổ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Ổ nhận thức được rằng hành vi trộm cắp tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính lười lao động, muốn hưởng lợi bất chính từ tài sản của người khác nên bị cáo Ổ lợi dụng đêm khuya, cùng nhau bàn bạc với Nguyễn Tuấn A đi trộm cắp tài sản của các chủ sở hữu bán, lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo Ổ và Nguyễn Tuấn A thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Ổ giữ vai trò tổ chức, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Nguyễn Tuấn A giữ vai trò giúp sức, cảnh giới canh đường và dùng xe máy của Tuấn A cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo bị xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản vào năm 2016 và 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản vào năm 2022, chưa xóa án tích, nay lại tiếp tục hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Do bị cáo Ổ không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.

Bà Võ Thị Thùy D có yêu cầu bị cáo Ổ bồi thường số tiền 1.100.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý, Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo Ổ bồi thường cho bà Võ Thị Thùy D số tiền 1.100.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật.

Buộc bị cáo Ổ giao nộp số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ được là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, số máy 5C64-269967, số khung RLCS5C640AY26994, có gắn biển số 67T2-0850 và 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu OPPO F9, dung lượng 64GB, màu tím, đã qua sử dụng (của Nguyễn Tuấn A) liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần xem xét tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/6/2024.

Đối với điện thoại di động của Nguyễn Văn Ổ dùng liên lạc Nguyễn Tuấn A để đi trộm cắp tài sản đã bị mất và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, không rõ biển số của bị cáo Ổ đã bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân; biển số xe 68P6-5415, Cơ quan điều tra truy tìm không được, nên không xem xét xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo Ổ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ổ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ổ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 28/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Ổ.

2. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ổ phải bồi thường cho bà Võ Thị Thùy D số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ổ giao nộp số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Bị hại Trần Nhựt D1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, số máy 5C64-269967, số khung RLCS5C640AY26994, có gắn biển số 67T2-0850 và 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu OPPO F9, dung lượng 64GB, màu tím, đã qua sử dụng (của Nguyễn Tuấn A).

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/6/2024.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ổ phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng, tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ CA Tp. Phú Quốc;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Quốc Hội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm xe máy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger