|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày 17 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Toản và bà Phạm Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS, ngày 15/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST - HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo: Tống Văn Đ - tên gọi khác: không; sinh ngày 05/12/1992, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn Q và bà Phạm Thị T; Vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Phạm Văn S, sinh năm 1966 (đã tử vong).
Người đại diện hợp pháp: anh Phạm Văn T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn L, xã Đ, huyên Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Bùi Huy T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: tổ H, khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
Người làm chứng: Lê Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ 20 phút ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Km 108 + 800 Quốc lộ A, đoạn thuộc tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Tống Văn Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 14C 356.41 đi hướng ngã ba H - ngã tư A. Do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền phía trước, dẫn đến đâm vào xe mô tô BKS 14M1 - 121.52 do ông Phạm Văn S điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: ông Pham Văn S1 tử vong, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại trị giá 3.101.000 đồng.
Kết luận giám định tử thi số 339/KLGĐTT - TTPY của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận: nguyên nhân chết của ông Phạm Văn S: sốc mất máu không hồi phục do chấn thương bụng kín vỡ gan, vỡ lách + đa chấn thương.
Kết luận định giá tài sản số 09/KLĐGTS ngày 13/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 14M1 - 121.52 trị giá 3.101.000 đồng.
Vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc xe ô tô BKS 14C - 356.41 và 01 chiếc xe mô tô BKS 14M1 - 121.52.
Lời khai của bị cáo Tống Văn Đ: Bị cáo là lái xe thuê theo ngày cho Bùi Huy T2, với mức lương 300.000 đồng/1 ngày. Khoảng 3 giờ ngày 27/12/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 14C - 356.41 đi nhận hàng hải sản ở thành phố C về H giao cho các điểm thu mua, người cùng đi bốc hàng là Lê Văn D. Khoảng 8 giờ 20 phút, bị cáo điều khiển xe ô tô đi từ phía Đại Yên về bến xe Bãi Cháy để giao nốt hàng. Khi xe đi đến đoan đối diện trường N, lúc nay xe ô tô đi với tốc độ khoảng 60 km/h ở làn đường sát giải phân cách giữa, bị cáo cúi xuống lấy chai nước để uông. Khi ngẩng đầu lên, bị cáo nhìn thấy ở phía trước có một xe mô tô do một người đàn ông (sau này bị cáo biết tên là Phạm Văn S) điều khiển cách đầu xe ô tô của bị cáo khoảng 2 đến 3 mét. Bị cáo xử lý đạp phanh, nhưng do khoảng cách giữa hai xe quá gần nên đầu xe ô tô đâm vào đuôi xe mô tô, làm xe mô tô bị trượt đổ văng về phía trước, xe ô tô đi thêm một đoạn khoảng 15 mét thì dừng lại. Hậu quả vụ tai nạn làm ông Phạm Văn S tử vong.
Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Anh T3 không được chứng kiến diễn biến vụ tai nạn liên quan đến bố anh là ông Phạm Văn S bị tử vong. Chiếc xe mô tô BKS 14M1 - 121.52 là xe của anh mua năm 2022, anh giao xe mô tô cho ông S làm phương tiện đi lại hàng ngày trong thời gian trông nhà đang xây của anh tại tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi xảy ra tai nạn anh không biết ông S đi đâu và uống rượu bia hay không. Sau khi gây tai nạn bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh số tiền 200 triệu đồng; anh không yêu cầu bị cáo bồi thương thêm khoản chi phí nào khác, đề nghị các cơ quan pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (QL, NVLQ) anh Bùi Huy T2 trình bày: Chiếc xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Kia biển số đăng ký 14C - 356.41 là xe của anh, anh thuê Tống Văn Đ lái để chở hàng, khi thuê không có hợp đồng mà chỉ thỏa thuận thù lao theo ngày. Diễn biến vụ tai nạn anh không được chứng kiến. Khoảng 9 giờ ngày 27/12/2023, anh nhận được điện thoại của Đ gọi báo Đ1 điều khiển xe ô tô gây tai nạn, sau đó anh đã đến hiện trường để giải quyết. Anh T2 nhận thấy vụ tai nạn là ngoài mong muốn, sau khi xảy ra tai nạn các bên liên quan đã tự nguyện thống nhất bồi thường, anh không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường thiệt hại liên quan đến xe ô tô của anh, đề nghị Cơ quan pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Người làm chứng anh Lê Văn D có lời khai xác nhận: Khoảng 5 giờ ngày 27/12/2023, sau khi nhập hàng hản sản tại thành phố C xong, Tống Văn Đ là người điều khiển xe ô tô BKS 14C - 356.41, anh ngồi ở ghế phụ bên phải ca bin để đi giao hàng cho các điểm thu mua. Khoảng 8 giờ 30 phút, khi Đ điều khiển xe ô tô từ Đ về B để giao nốt số hàng còn lại. Anh ngồi ghế bên phải ngủ nên không biết vụ tai nạn xảy ra như thế nào. Khi nghe tiếng động mạnh anh mở mắt nhìn thấy kính chắn gió xe ô tô bị vỡ, trước đâu xe có một xe mô tô và một người đàn ông nằm trên đường anh và Đ xuống kiểm tra. Thấy người đàn ông bị thương nên anh và Đ gọi xe Taxi, đưa người bị thương đến bệnh viện cấp cứu.
Bản cáo trạng số 466/CT-VKSHL, ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố Tống Văn Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, đưa ra các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng:
Điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Tống Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Phạm Văn S số tiền 200 triệu đồng; người có QL, NVLQ Bùi Huy T2 không yêu cầu bồi thường. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường thêm; Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, nên không xem xét giải quyết. Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Tống Văn Đ, trả lại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tống Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; người có QL, NVLQ, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa: Đơn xin đầu thú, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường; biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; bản kết luận giám định tử thi số 339/KLGĐTT - TTPY ngày 05/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q; Bản kết luận định giá tài sản số 09/KLĐGTS ngày 13/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H; bản luận tội Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Với những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 20 phút ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Km 108 + 800 Quốc lộ A, đoạn thuộc tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Tống Văn Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14C - 356.41 đi hướng ngã ba H - ngã tư A. Do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền phía trước, dẫn đến đâm vào xe mô tô BKS 14M1 - 121.52 do ông Phạm Văn S điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: ông Pham Văn S1 tử vong, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại trị giá 3.101.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự của hoạt động giao thông vận tải đường bộ, gây thiệt hại tính mạng, tài sản của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng không chấp hành các quy tắc xử sự về an toàn giao thông, phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả nên đã gây thiệt hại về tính mạng và tài sản cho người bị hai; hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người. Hành vi vi phạm của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng, có mức hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nội dung luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) : Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền sự, tiền án; về tình tiết tăng nặng: không ; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi gây ra tai nạn đến cơ quan Công an xin đầu thú, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có QL, NVLQ có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo, giáo dục mình thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ TNHS. HĐXX nhận thấy bị cao có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, tại nơi cư trú luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ; có 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS và có khả năng tự cải tạo, đồng thời việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội ; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ ; áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phong ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe, nhưng xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Văn S số tiền 200.000.000 đồng; người có QL, NVLQ không yêu cầu bồi thường; đại diện của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm. HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng vụ án: 01 chiếc xe ô tô BKS 114C - 356.41 và 01 chiếc xe mô tô BKS 14M1 - 121.52; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, HĐXX không xem xét giải quyết. 01 giấy phép lái xe trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Tống Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Tống Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường nơi bị cáo được giao trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Tống Văn Đ.
Vật chứng vụ án: Trả bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe số [...] họ tên Tống Văn Đ, do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 22/11/2016.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tống Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Hiệp |
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tống Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
