Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:125/2024/HSST

Ngày 03-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết

2. Ông Bùi Hữu Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. BẠCH THỊ T, sinh năm 1972 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Làng T, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bạch Đình C (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Q (đã chết). Bị cáo có 08 anh, chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1950, nhỏ nhất sinh năm 1971); bị cáo có chồng là Triệu Văn L, sinh năm 1968 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Bạch Thị T bị tạm giữ từ ngày 25-01-2024 đến ngày 02-02-2024, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

2. NGUYỄN XUÂN S, sinh năm 1994 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ C, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình C1, sinh năm 1966 và bà: Trần Thị X, sinh năm 1971. Bị cáo có 02 chị, em ruột (sinh năm 1993 và năm 1996); bị cáo có vợ là Phạm Thị Á, sinh năm 1998 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Xuân S1 bị tạm giữ từ ngày 25-01-2024 đến ngày 02-02-2024, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Dương Xuân T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ F, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Lê Bá T2, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ C, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1966; địa chỉ: Làng C, xã I, huyện Đ tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Võ Nhật C2, sinh năm 1976; địa chỉ: Phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Ông Trần Ngọc C3, sinh năm 1968; địa chỉ: Phố C, phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 có mối quan hệ quen biết nhau, T biết S1 thường chạy xe Taxi chở khách đến cửa khẩu L2. Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ về sử dụng vào dịp Tết nguyên đán nên vào khoảng giữa tháng 12/2023, Bạch Thị T gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân S1, nhờ tìm mua pháo hoa nổ, S1 đồng ý rồi nói với T phải chuyển tiền trước để S1 thanh toán khi mua pháo và nhắn số tài khoản 6210989910 của S1 tại Ngân hàng Đ cho T. Ngày 27/12/2023, T nhờ bạn tên Trần Ngọc C3 chuyển khoản cho S1 4.000.000 đồng để mua pháo. Ngày 14/01/2024, S1 nói cho T là chưa mua được pháo thì T nói cố gắng mua trước 10 hộp. Ngày 22/01/2024, khi S1 chở K đến gần cửa khẩu L2, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì gặp người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) nói có pháo hoa nổ loại 49 viên, bán với giá 900.000 đồng/hộp nhưng bán nguyên thùng không bán lẻ; S1 kết bạn tài khoản Zalo “Cậu già” của người đàn ông (không có số điện thoại) để liên hệ mua bán pháo và nhận tiền, yêu cầu giao pháo tại nhà S1 ở địa chỉ Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Ngày 22/01/2024, S1 nói với T pháo bán giá 900.000 đồng/hộp không bán lẻ mà bán nguyên thùng thì T đồng ý, T tiếp tục nhờ ông Trần Ngọc C3 chuyển số tiền 4.000.000 đồng và nói ông Võ Nhật C2 chuyển số tiền 4.770.000 đồng cho S1 để S1 trả tiền mua pháo.

Khoảng 06 giờ ngày 23/01/2024, có một thanh niên khoảng 20 tuổi (không rõ tên tuổi, lai lịch) đi xe mô tô (không rõ biển số) chở một thùng cát tông đến nhà giao cho S1 và nói giao 20 hộp pháo, S1 nhận nhưng không kiểm đếm rồi trả 18.000.000 đồng. S1 lấy 01 thùng xốp đựng pháo, do kích thước thùng xốp nhỏ nên S1 chỉ để được 08 hộp pháo hoa nổ và dùng băng keo dán kín, chuyển cho T; số còn lại S1 cất giấu tại phòng khách nhà S1. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, S1 gọi cho T nói đã mua được pháo chuyển đến địa chỉ nào thì T yêu cầu S1 ghi người nhận tên là “T3 đài truyền hình” số điện thoại 0903.532.xxx chuyển đến thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì có người nhận. Sau đó, S1 đem thùng xốp ra đường Quốc lộ 19 và gửi xe khách “Dũng nhỏ”, biển số 86B-011.03, chạy tuyến Đ đi P do ông Nguyễn Đức D làm tài xế, rồi báo cho T biết. Do không đủ khách nên ông D đã chuyển lại thùng xốp cho ông Lê Bá T2 lái xe ô tô biển số 81D-007.28 của nhà xe “Khánh Chi”, để vận chuyển về thành phố P. Sau đó, T gọi điện thoại cho ông Dương Xuân T1 nhờ ông T1 ra nhận giúp đưa về nhà để hôm sau bà T lên nhận lại (T không nói trong thùng xốp chứa pháo). Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, ông T1 ra nhận thùng xốp vận chuyển về thì bị Công an thành phố P phát hiện, tạm giữ số pháo trên.

Đến 02 giờ ngày 25/01/2024 Nguyễn Xuân S1 đến Công an thị trấn C, Đ đầu thú, giao nộp vật chứng gồm: 09 hộp pháo còn lại chưa chuyển cho bà T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax và khai nhận toàn bộ hành vi. Đến 10 giờ ngày 25/01/2024, Bạch Thị T đến Công an thành phố P đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.

Qua giám định, Tại Bản kết luận giám định số 193/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G, kết luận:

“ - 08 (tám) hộp giấy, bên ngoài đều dán giấy màu in, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911 BILLION TIME-49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp có 49 vật hình trụ có dây nói liên kết với nhau đựng trong 01 thùng xốp chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 13,8 kg.

+ 09 (chín) hộp giấy, bên ngoài đều dán giấy màu in, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911 BILLION TIME-49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp có 49 vật hình trụ có dây nói liên kết với nhau đựng trong 01 thùng giấy cát tông chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 15,6 kg".

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 133/CT-VKS ngày 21-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 về tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1.

Đề Nghị: Xử phạt bị cáo Bạch Thị T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S1 mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đề nghị tịch thu tiêu hủy những tang vật của vụ án gồm: 01 thùng cattong có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G. (có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1) và 01 thùng xốp có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G (có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1).

Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước những công cụ dùng vào việc phạm tội gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh nước biển, kèm sim số thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân S1 (01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Xuân S1, Phạm Hồ Bảo N) và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Find X5 Pro, màu trắng, kèm sim số thu giữ của bị cáo Bạch Thị T (01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Bạch Thị T, Phạm Hồ Bảo N).

(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-6-2024 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Các bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo:

Xét thấy lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 phạm tội như sau:

Vì muốn có pháo hoa nổ để sử dụng vào dịp Tết nguyên đán nên Bạch Thị T đã nhờ Nguyễn Xuân S1 mua giúp. Vào ngày 23/01/2024, S1 đã mua của 01 đối tượng thanh niện (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 thùng pháo hoa nổ với giá 18.000.000 đồng ở Tổ C, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Sau khi mua được pháo hoa nổ, S1 lấy 01 thùng xốp bỏ 08 hộp pháo vào rồi dùng băng keo dán kín ghi tên người nhận “Tuyển đài truyền hình” số điện thoại 0903.532.xxx theo yêu cầu của T gửi xe khách chạy tuyến Đ- P, rồi điện thoại báo cho T. Sau đó, T liên hệ với ông Dương Xuân T1 nhờ lấy dùm, ông T1 đồng ý. Đến 10 giờ cùng ngày, ông T1 đến nhận thùng hàng dùm T thì bị lục lượng công an phát hiện, thu giữ 08 hộp pháo hoa nổ có trọng lượng 13,8kg. Ngày 25/01/2024, Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 đến Công an đầu thú; S1 đã giao nộp 09 hộp pháo hoa nổ có trọng lượng là 15,6kg.

Tại Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;

b) Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

Các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 hoàn toàn nhận thức được hành vi “Buôn bán hàng cấm” mà cụ thể là buôn bán pháo hoa nổ của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì mục đích nhu cầu cá nhân mà bị cáo T đã cố ý nhờ bị cáo S1 mua số pháo hoa nổ trên về để phục vụ nhu cầu cá nhân trong dịp tết. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; xâm phạm trật tự trị an xã hội. Số lượng pháo hoa nổ các bị cáo mua để bán là 29,4Kg. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn; trong đó bị cáo Bạch Thị T là người khởi xướng, bị cáo Nguyễn Xuân S1 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo về các hành vi phạm tội như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, nhằm giáo dục các bị cáo cải tạo bản thân để tiến bộ là cần thiết và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Ngoài ra, bị cáo T có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, Hội đồng xét xử cần xét cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, các bị cáo T và S1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 50, 65 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt tù, cho các bị cáo được hưởng án treo, bên cạnh sự giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục các bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 thùng cattong có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G (có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1) và 01 thùng xốp có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G.(có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1). Xét đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh nước biển, kèm sim số thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân S1 (trong 01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Xuân S1, Phạm Hồ Bảo N) và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Find X5 Pro, màu trắng, kèm sim số thu giữ của bị cáo Bạch Thị T ( trong 01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Bạch Thị T, Phạm Hồ Bảo N). Xét đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân quỹ Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo mua pháo nhằm mục đích để sử dụng, các bị cáo không có thu lợi. Vì vậy hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Vấn đề khác:

Đối với ông Võ Nhật C2 và ông Trần Ngọc C3 là những người chuyển tiền cho Nguyễn Xuân S1 theo yêu cầu của Bạch Thị T. Qua điều tra xác định: Vì là chỗ quen biết nên khi Bạch Thị T nhờ chuyển tiền thì ông C2 và ông C3 chuyển dùm bà T; ông C2 và ông C3 không biết việc chuyển tiền đến tài khoản của Nguyễn Xuân S1 là để mua pháo hoa nổ và cũng không biết việc mua bán pháo hoa nổ giữa T và S1. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku không xử lý đối với ông C2 và ông C3 là đúng pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Đức D là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 86B-011.03 và ông Lê Bá T2 là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 81D-007.28; đều là những người vận chuyển thùng xốp chứa pháo hoa nổ theo yêu cầu của Nguyễn Xuân S1. Qua điều tra xác định: Anh D1 và ông T2 làm nghề tài xế xe khách vận chuyển người và hàng hóa lấy tiền cước; khi vận chuyển thùng xốp theo yêu cầu của Nguyễn Xuân S1 thì anh D1 và ông T2 không biết trong đó có chứa pháo hoa nổ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T không xử lý đối với anh Nguyễn Đức D là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 86B-011.03 và ông Lê Bá T2 là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 81D-007.28 là đúng pháp luật.

Đối với ông Dương Xuân T1 là người nhận thùng xốp chưa pháo hoa nổ. Qua điều tra xác định: Khi nhận thùng xốp dùm Bạch Thị T thì ông T1 không biết bên trong thùng xốp có chứa pháo hoa nổ và cũng không biết việc mua bán pháo hoa nổ giữa T và Nguyễn Xuân S1. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku không xử lý đối với ông T1 là đúng pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Đình C1 (sinh năm 1966) và bà Trần Thị X (Sinh năm 1971), là chủ sở hữu căn nhà tại Thôn C, thị trấn C, huyện Đ tỉnh Gia Lai. Qua điều tra xác định: Ông C1 và bà X là bố mẹ của Nguyễn Xuân S1; năm 2018, ông C1 và bà X đã giao căn nhà trên cho S1 sử dụng, việc S1 sử dụng căn nhà trên cất giữ số pháo hoa nổ thì ông C1 và bà X không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku không xử lý đối với ông Nguyễn Đình C1 và bà Trần Thị X là đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông có tên Z “Cậu già” là người bán pháo hoa nổ và người thanh niên chở pháo hoa nổ đến giao cho Nguyễn Xuân S1. Qua điều tra xác định: Do Nguyễn Xuân S1 không biết rõ nhân thân, lai lịch của những người này; đồng thời, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được các đối tượng nêu trên nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được các đối tượng trên, sẽ làm rõ và xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bạch Thị T và bị cáo Nguyễn Xuân S1.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Bạch Thị T 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án 03-7-2024. (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-01-2024 đến ngày 02-02-2024).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án 03-7-2024.( Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-01-2024 đến ngày 02-02-2024).

    Giao bị cáo Bạch Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Giao bị cáo Nguyễn Xuân S1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Xử:

    Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cattong có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G (có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1) và 01 thùng xốp có dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh G (có chữ ký, ghi họ và tên của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thành L1).

    Tịch thu sung ngân quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh nước biển, kèm sim số (trong 01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Nguyễn Xuân S1, Phạm Hồ Bảo N) và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Find X5 Pro, màu trắng, kèm sim số (trong 01 bì công văn không ghi số, có dấu niêm phong của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai, có chữ ký của Nguyễn Xuân T4, Bạch Thị T, Phạm Hồ Bảo N).

    (Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-6-2024 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku,tỉnh Gia Lai).

  4. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc các bị cáo Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Tp. Pleiku;
  • - Công an Tp. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HSST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 125/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bạch Thị T và Nguyễn Xuân S phạm tội "Buôn bán hàng cấm"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger