Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày: 03-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Khanh
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoài G - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/HSST-QĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Ngọc L, giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Danh Thị T; vợ: Võ Thị H; con: có 02 người.

    Tiền sự: không; tiền án: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 (có mặt).

  2. Trần Văn B, giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 178/20/18, tổ 1, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn T1 và bà: Đào Thị K; anh chị em ruột: có 05 người; vợ: Võ Thị D; con: có 02 người.

    Tiền sự: không; tiền án: không

    Bị cáo bị bắt từ ngày 17/12/2023 đến ngày 19/12/2023 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  3. Nguyễn Văn V; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn B1 và bà: Mai Thị H1; anh chị em: có 03 người; vợ: Hà Thị Mỹ N; con: có 02 người, sinh năm 2006.

    Tiền sự: không; tiền án: không.

    Bị cáo bị bắt từ ngày 17/12/2023 đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  4. Trần Hoàng Đ; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần S và bà: Hoàng Thị L2; anh chị em: có 04 người; vợ: Võ Thị Kim N1; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Tiền sự: không, tiền án: không.

    Nhân thân: Ngày 24/12/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 745/2008/HSPT, chấp hành xong ngày 30/8/2010.

    Bị cáo bị bắt từ ngày 17/12/2023 chuyển tạm giam đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  5. Nguyễn Bé N2; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 142/4 ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn M và bà: Nguyễn Thị T2; anh chị em: có 02 người; vợ, con: chưa có.

    Tiền sự: không, tiền án: không.

    Bị cáo bị bắt từ ngày 17/12/2023 chuyển tạm giam đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  6. Trần Việt T3; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần Hồng V1 và bà: Trần Thị Y; anh, chị, em ruột: 02 người; vợ Trần Thị Ngọc T4; con: Trần Khánh A, sinh năm 2019.

    Tiền sự: không, tiền án: không.

    Bị cáo bị bắt từ ngày 17/12/2023 chuyển tạm giam đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Minh S1, sinh năm 1993;

    Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  2. Ông Văn Công Thanh Đ1, sinh năm 1990;

    Địa chỉ: I ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Ngọc L chuẩn bị công cụ, phương tiện tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà cựa sắt ăn thua bằng tiền tại bãi đất trống thuộc tổ A, ấp X, xã X, huyện H để thu tiền xâu. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, khi L đang tổ chức trận đá gà giữa con gà tích trắng và con gà tích đen thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng, mỗi bên cá cược là 3.000.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Bên cánh gà tích trắng có Trần Văn B là chủ gà hùn số tiền 2.000.000 đồng, Trần Hoàng Đ hùn số tiền 1.000.000 đồng.

Bên cánh gà tích đen có Nguyễn Văn V là chủ gà hùn số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Bé N2 hùn số tiền 1.000.000 đồng (nếu thua sẽ về nhà lấy tiền), Trần Việt T3 hùn số tiền 500.000 đồng.

Ngoài ra, còn có Trần Minh S1 và Văn Công Thanh Đ1 đá giàn xáo với nhau, không thông qua L. S1 đặt cược con gà tích trắng số tiền 100.000 đồng, Đ1 đặt cược con gà tích đen số tiền 100.000 đồng, số tiền đánh bạc là 200.000 đồng, cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính.

Bá ôm gà tích trắng cho Đ băng cựa sắt, T3 ôm gà tích đen cho V băng cựa sắt. B và V thả gà ra đá với nhau, khi chưa xác định thắng thua thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Vật chứng thu giữ:

01 cái cân loại 05kg hiệu Nhơn Hòa màu xanh; 03 cuộn băng keo; 02 cặp cựa sắt.

01 con gà màu trắng (tích trắng) nặng 3,1kg; 01 con gà màu trắng (tích đen) nặng 3kg. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với các ban ngành tiến hành tiêu hủy.

Số tiền tham gia đánh bạc 5.200.000 đồng gồm: Bá 2.000.000 đồng; Đ 1.000.000 đồng; Vàng 1.500.000 đồng; Thái 500.000 đồng; S1 100.000 đồng; Điền 100.000 đồng.

Số tiền 800.000 đồng, gồm Bá 200.000 đồng; Đ 500.000 đồng; Điền 100.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKSH.HM ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trần Văn B, Nguyễn Văn V, Trần Hoàng Đ, Nguyễn Bé N2, Trần Việt T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trần Văn B, Nguyễn Văn V, Trần Hoàng Đ, Nguyễn Bé N2, Trần Việt T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Nguyễn Ngọc L từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Trần Văn B, Nguyễn Văn V, Trần Hoàng Đ, Nguyễn Bé N2, Trần Việt T3 mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Ngọc L chuẩn bị công cụ, phương tiện tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà cựa sắt ăn thua bằng tiền tại bãi đất trống thuộc tổ A, ấp X, xã X, huyện H để thu tiền xâu. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, khi L đang tổ chức trận đá gà giữa con gà tích trắng và con gà tích đen thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng, mỗi bên cá cược là 3.000.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Bên cánh gà tích trắng có Trần Văn B là chủ gà hùn số tiền 2.000.000 đồng, Trần Hoàng Đ hùn số tiền 1.000.000 đồng.

Bên cánh gà tích đen có Nguyễn Văn V là chủ gà hùn số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Bé N2 hùn số tiền 1.000.000 đồng (nếu thua sẽ về nhà lấy tiền), Trần Việt T3 hùn số tiền 500.000 đồng.

Bá ôm gà tích trắng cho Đ băng cựa sắt, T3 ôm gà tích đen cho V băng cựa sắt. B và V thả gà ra đá với nhau, khi chưa xác định thắng thua thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo đã có hành vi đá gà ăn thua bằng tiền với số tiền tham gia cá độ là 6.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Đ và bị cáo T3 nuôi con nhỏ; bị cáo B đang bị bệnh suy thận mãn giai đoạn cuối, phải chạy thận. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Các bị cáo B, V, Đ, N2, T3 có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo V, Đ, N2, T3 có việc làm ổn định; bị cáo B đang bị bệnh suy thận mãn giai đoạn cuối, phải chạy thận. Do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội, buộc các bị cáo B, V, Đ, N2, T3 chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy: 03 cuộn băng keo; 02 cặp cựa sắt;

01 con gà màu trắng (tích trắng) nặng 3,1kg; 01 con gà màu trắng (tích đen) nặng 3kg: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với các ban ngành đã tiến hành tiêu hủy. Do đó, Hội đồng xét xử không xét;

Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền tham gia đánh bạc 5.200.000 đồng gồm số tiền 2.000.000 đồng của B; 1.000.000 đồng của Đ; 1.500.000 đồng của V; 500.000 đồng của T3; 100.000 đồng của S1; 100.000 đồng của Đ1; 01 cái cân loại 05kg hiệu Nhơn Hòa màu xanh.

Số tiền 800.000 đồng gồm 200.000 đồng của B; 500.000 đồng của Đ; 100.000 đồng của Đ1: Không liên quan đến việc đánh bạc, cần trả lại cho B, Đ, Đ1.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L;

Áp dụng khoản 1 Điều 32; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Áp dụng Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử phạt:

  1. Nguyễn Ngọc L 07 (bảy) tháng 05 (năm) ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
  2. Trần Văn B 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Văn B cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

  3. Nguyễn Văn V 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

  4. Trần Hoàng Đ 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 13 (mười ba) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

  5. Nguyễn Bé N2 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 13 (mười ba) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

  6. Trần Việt T3 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 13 (mười ba) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (các bị cáo được hưởng án treo đã được giải thích về chế định án treo).

3. Xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 03 cuộn băng keo; 02 cặp cựa sắt.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cái cân loại 05kg hiệu Nhơn Hòa màu xanh.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

3.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền tham gia đánh bạc 5.200.000 đồng gồm số tiền 2.000.000 đồng của Trần Văn B; 1.000.000 đồng của Trần Hoàng Đ; 1.500.000 đồng của Nguyễn Văn V; 500.000 đồng của Trần Việt T3; 100.000 đồng của ông Trần Minh S1; 100.000 đồng của ông Văn Công Thanh Đ1.

Trả lại cho Trần Văn B số tiền 200.000 đồng, Trần Hoàng Đ số tiền 500.000 đồng và Văn Công Thanh Đ1 số tiền 100.000 đồng.

(Theo giấy nộp tiền ngày 26/01/2024 của Ngân hàng N3 chi nhánh H2).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trần Văn B, Nguyễn Văn V, Trần Hoàng Đ, Nguyễn Bé N2, Trần Việt T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

5. Án xử sơ thẩm công khai. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết..

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger