TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/DS-ST
Ngày: 17-6-2025
V/v “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Như Thủy;
- Bà Huỳnh Nguyệt Ánh.
Thư ký phiên tòa: Võ Ngọc Đức –Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hồng Gấm- Kiểm sát viên.
Ngày 17/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 88/2025/TLST-DS ngày 21/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2025/QĐST-DS, ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê N – Nhân viên (Văn bản ủy quyền số 2510/2024/UQ-TGĐ ngày 22/4/2024). Có đơn vắng mặt
Bị đơn: Ông Trần Hồng P; sinh năm: 1987; Địa chỉ: số I B, Khu Phố B, Phường T, Quận G, Tp .. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 12 năm 2024, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải do ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 14/10/2016, Ông P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 24.081.873 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 13.599.000 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/02/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 16,581,020 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.225%/tháng (= lãi suất trong hạn 2.15%/tháng x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 17/6/2025, ông P còn nợ các khoản sau:
- Dư nợ gốc : 16.581.020 đồng
- Lãi quá hạn : 48.020.550 đồng
- Tổng cộng : 64.601.570 đồng
Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu Ô có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông P vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
- Buộc ông Trần Hồng P phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/6/2025 là 64.601.570 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi) trong đó: Dư nợ gốc: 16.581.020 đồng; Lãi quá hạn: 48.020.550 đồng.
- Và ông Trần Hồng P có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn ông Trần Hồng P: Đã được Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa nhưng không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trần Hồng P vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự: Bị đơn ông Trần Hồng P phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Sau khi nghe kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm;
Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề cần giải quyết trong vụ án;
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Trần Hồng P phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng) được các bên ký kết ngày 14/10/2016 nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự hợp đồng vay tài sản quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì “ông Trần Hồng P, sinh năm: 1987 không có hộ khẩu thường trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ 9 B, Khu phố H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh".
Tuy nhiên căn cứ chứng cứ là sổ tạm trú số [...], đăng ký tại công an phường T được Ngân hàng cung cấp thể hiện bị đơn Trần Hồng P có đăng ký tạm trú tại địa chỉ 9 B, Khu phố H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 20/5/2015 và chưa xóa đăng ký tạm trú.
Căn cứ vào mục 10 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có thỏa thuận “Chủ thẻ cam kết thông báo ngay lập tức cho đơn vị phát hành thẻ về bất kỳ sự thay đổi về thông tin của chủ thẻ bao gồm bất kỳ phương thức liên lạc nào khác mà đơn vị phát hành thẻ có thể liên lạc với chủ thẻ ngoại trừ tất cả những gì được ghi trong giấy đề nghị”. Vì vậy trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Trần Hồng P. Nay ông P vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì đây là tranh chấp về giao dịch dân sự hợp đồng vay tài sản quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Trần Hồng P đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[1.3] Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 30 tháng 5 năm 2025. Bị đơn ông Trần Hồng P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Hồng P phải thanh toán cho Ngân Hàng toàn bộ số tiền nợ là 64.601.570 đồng (Bằng chữ: sáu mươi bốn triệu sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi), trong đó: Dư nợ gốc là 16.581.020 đồng; Lãi quá hạn là: 48.020.550 đồng.
[2.1.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc 16.581.020 đồng (Bằng chữ: mười sáu triệu năm trăm tám mốt nghìn không trăm hai mươi)
Xét thấy: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hoạt động trong các lĩnh vực theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần (Mã số doanh nghiệp: 0301103908) của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng ký ngày 14/10/2016 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với ông Trần Hồng P, thì Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho ông Trần Hồng P với số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu), mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân. Xét, chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận Hợp đồng.
Thực hiện Hợp đồng, ông Trần Hồng P đã nhận thẻ cấp tín dụng từ Ngân hàng và cũng đã thực hiện các giao dịch qua thẻ với tổng số tiền là 24.081.873 đồng. Tuy nhiên ông Trần Hồng P chỉ thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 13.599.000 đồng và sau đó ngưng thanh toán cho đến nay, ông Trần Hồng P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu phải trả số tiền nợ gốc như trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[2.1.2] Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Trần Hồng P phải trả số tiền lãi quá hạn tạm tính đến 17/6/2025 là 48.202.550 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng trả góp, tính từ ngày 18/6/2025 đến khi trả hết nợ.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có chức năng hoạt động tín dụng theo Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và phần lãi suất do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện và căn cứ Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2] Về thời gian trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc và lãi 64.601.570 đồng (Bằng chữ: sáu mươi bốn triệu sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi) trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, ông Trần Hồng P có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 147; Khoản 1 Điều 207; Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 466, Điều 468 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Căn cứ Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- - Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bị đơn ông Trần Hồng P.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Buộc bị đơn ông Trần Hồng P phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là 64.601.570 đồng (Bằng chữ: sáu mươi bốn triệu sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi), trong đó: Dư nợ gốc là 16.581.020 đồng; Lãi quá hạn là: 48.020.550 đồng.
Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Kể từ ngày 18/6/2025 ông Trần Hồng P còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cấp tín dụng ký ngày 14/10/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Buộc bị đơn ông Trần Hồng P phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là 64.601.570 đồng (Bằng chữ: sáu mươi bốn triệu sáu trăm lẻ một nghìn năm trăm bảy mươi), trong đó: Dư nợ gốc là 16.581.020 đồng; Lãi quá hạn là: 48.020.550 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Trần Hồng P phải chịu 3.230.079 đồng (ba triệu hai trăm ba mươi nghìn không trăm bảy mươi chín), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.415.399 đồng (một triệu bốn trăm mười lăm nghìn ba trăm chín mươi chín) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23P số 0037332, ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Án xử công khai, tuyên án vắng mặt Nguyên đơn, bị đơn.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Trần Hồng P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 125/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 125/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc của nguyên đơn
