|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2025/HSPT Ngày: 15/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang;
Ông Nguyễn Trung Thông.
Thư ký phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Thị Thu T do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2025/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Vũ Thị Thu T, sinh năm 1984, tại phường N, tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: số E, đường N, phường K, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; con ông Vũ Hữu T1, sinh năm 1957 và bà Lê Thị N, sinh năm 1958; chồng Lê Phương N1, sinh năm 1987 và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo và 08 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tuy nhiên đều không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ ngày 07/12/2024, tổ công tác Công an phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh) tiến hành kiểm tra hành chính quán K2, ở tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) do Điềm Đăng N2, sinh năm 1980, trú tại thôn Y, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) làm chủ. Quá trình kiểm tra phát hiện một số người ở trong một số phòng hát có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy:
- - Tại phòng Víp 5 có 03 người, gồm: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); Vũ Thị Thu T, sinh năm 1984, trú tại số E, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường K, tỉnh Bắc Ninh); Bùi Thị T3, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã V, tỉnh Bắc Ninh). Vật chứng thu giữ trong phòng hát: thu trên mặt bàn phía trong 01 chén màu trắng, bên trong có bám dính chất màu nâu; thu trong hốc bàn để đồ có 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành hình trụ tròn, cố định 2 đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá nhãn hiệu Kent; thu dưới nền phòng ở góc trong cùng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý và 01 túi ni lon màu trắng bên trong có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma tuý; toàn bộ vật chứng trên được niêm phong trong 01 hộp cát tông màu nâu. Công an tiến hành xét nghiệm chất ma tuý, kết quả T2, T, T3 đều dương tính với chất ma tuý Ket, M, MDMA.
- - Tại phòng 107 có 02 người, gồm: anh Phạm Văn T4, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh); Dương Thị P, sinh ngày 17/12/2008 (dưới 18 tuổi), trú tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Công an tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với T4, P, kết quả: Dương Thị P dương tính với chất ma tuý MDMA, Phạm Văn T4 âm tính.
- - Tại phòng Víp 01 có 06 người, gồm: Tòng Thị H, sinh ngày 08/01/2007 (dưới 18 tuổi), trú tại Bản Nà Dinh, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là xã M, tỉnh Lai Châu); Lò Thị H1, sinh ngày 24/02/2008 (dưới 18 tuổi), trú tại Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là xá M, tỉnh Lai Châu); Giáp Yên N3, sinh năm 2008, trú tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh); Trần Lý T5, sinh năm 1987, trú tại khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); Trần Tuấn A, sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã C, tỉnh Bắc Ninh); Nguyễn Quang H2, sinh năm 1987, trú tại khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Công an tiến hành xét nghiệm việc sử dụng chất ma tuý đối với các đối tượng trên, kết quả: H, H1 dương tính với ma tuý Ket, Met, MDMA; các đối tượng còn lại đều âm tính với chất ma tuý.
Tại Cơ quan điều tra, T2, T đã đầu thú khai nhận về việc cùng Nông Thị Quỳnh A1, sinh năm 1999, trú tại thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang (nay là xã S, tỉnh Bắc Ninh) và Nguyễn Hồng T6, sinh ngày 21/8/2006, trú tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã N, tỉnh Thanh Hóa) tổ chức cho nhau và tổ chức cho những người sau cùng sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Phấn; H; H1; Tòng Thị P1, sinh năm 2006, trú tại Bản P, xã Y, huyện S, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La); Tòng Thị Hồng sinh ngày 08/01/2007 (dưới 18 tuổi), trú tại N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là xã M, tỉnh Lai Châu); Vũ Thái B, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (nay là đặc khu V, tỉnh Quảng Ninh).
Cùng ngày 07/12/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc và kiểm tra việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với: Quỳnh A1, T6, P1, B; kết quả đều dương tính với chất ma túy Met, K, MDMA. Tại Cơ quan điều tra, Quỳnh A1, T6 đầu thú, khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; khi đầu thú Quỳnh A1 giao nộp: 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Redmi 12K, lắp sim số 03727297857, T6 giao nộp: 01 túi xách màu nâu có chữ LV, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, imei: 353650691327725, lắp sim: 0354512431.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại phòng vip 5 và thu giữ trong phòng: 01 chiếc cốc thuỷ tinh loại cốc uống bia có bám dính chất màu nâu, đã được niêm phong theo quy định và 03 bật lửa ga. Cơ quan điều tra tiến hành rà soát camera an ninh của quán Karaoke, nhưng không thu giữ được dữ liệu camera an ninh; tiến hành khám xét nơi ở của T2 cùng Quỳnh A1, T6 nhưng không thu giữ được đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận giám định số 2649 ngày 15/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh) kết luận:
- “5.1. Trong 01 (một) hộp cát tông màu nâu đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
- - Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trong mẫu chất màu nâu bám dính trong 01 (một) cái chén màu trắng, không xác định được khối lượng.
- - Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành hình trụ tròn và được cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá Kent, không xác định được khối lượng.
- - Chất bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại là ma tuý, có khối lượng 0,223 gam, loại Ketamine.
- - Chất bột màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
- 5.2. Trong 01 (một) túi niêm phong đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trong mẫu chất màu nâu bám dính trong 01 (một) chiếc cốc thuỷ tinh màu trắng, có quai cầm, không xác định được khối lượng, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng.”
Quá trình điều tra, các bị can và đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy khai nhận: Nguyễn Văn T2 và Nông Thị Quỳnh A1 sống chung như vợ chồng. T2 để Quỳnh A1 cùng P1, H, T6, H1 sống cùng nhau tại nhà của T2 ở là tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh để làm nhân viên phục vụ quán Karaoke. Tối ngày 06/12/2024, T2 cùng với Quỳnh A1 và T đi ăn cơm sinh nhật một người bạn ngoài xã hội tại quán Bụi, ở tổ dân phố T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 23 giờ ngày 06/12/2024, T2 một mình đi xe mô tô đi trước đến quán K2, còn T đi xe ô tô cùng Quỳnh A1 đến sau. T2 bảo anh N2 cho một phòng hát, thì N2 nói lên phòng Víp 5. Tiếp đó, T2, Quỳnh A1 (bế theo con) và T vào phòng Víp 5 hát và uống bia. Hát được khoảng 20 phút thì B là bạn của T vào phòng ngồi chơi và hát cùng. Lúc này, T2 nói riêng với Quỳnh A1 bảo gọi điện cho T6 xem để gói “nước vui” (ma túy tổng hợp) ở đâu (do trước đó T6 nói cho T2 biết khi T6 đi chơi ở thành phố Hà Nội thì được một người đàn ông không biết là ai cho 01 gói ma túy “nước vui”) thì về lấy mang đến để cùng sử dụng, Quỳnh A1 đồng ý. Quỳnh A1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12R lắp sim số 03727297857, vào tài khoản zalo “Quỳnh Emma” của Q nhắn tin đến tài khoản zalo “Hồng Thương” của T6 để hỏi lấy gói ma túy “nước vui” để sử dụng thì T6 đồng ý. Lúc này, T6 đang đi làm tại quán K4 ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) nên dùng điện thoại di động Iphone 15Promax của T6 nhắn tin trả lời Quỳnh A1 là để gói ma túy “nước vui” ở túi xách cạnh gương trong phòng T6. Sau đó, Quỳnh A1 đưa con cho T2 bế rồi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (Q không nhớ rõ biển số, mượn cửa bố đẻ T2 là ông Nguyễn Văn B1), đi về phòng của T6 lấy ma túy. Khi về đến nhà ở tổ dân phố Q, T đi vào phòng của T6 mở túi da xách tay màu nâu viền vàng có họa tiết “VL” để dưới nền nhà trước gương lấy được 01 gói ma túy “nước vui” (có đặc điểm gói hình vuông, màu nâu, trên vỏ có nhiều chữ và có hình cốc cà phê). Quỳnh A1 tiếp tục nhắn tin hỏi T6 cách pha gói ma túy. Thương nhắn tin hướng dẫn Quỳnh A1 pha gói ma túy “nước vui” với 130ml nước đun vừa sôi xong. Quỳnh A1 xuống bếp xé túi nước vui đổ vào một bình nhựa, pha với nước đun sôi rồi cho vào 01 túi ni lon màu hồng treo ở giá xe phía trước xe mô tô. Tiếp đó, Quỳnh A1 và T6 đã xoá hết tin nhắn zalo với nhau, Quỳnh A1 vứt vỏ túi “nước vui” tại thùng rác ở cổng. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Quỳnh A1 điều khiển xe mô tô đem theo bình nhựa đựng ma túy đến đón H1, H và T6 ở quán K4 đi đến quán K2. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày 06/12/2024, Quỳnh A1 chở H1, H và T6 đến quán K2, gặp T2 đang bế con tại quầy. Q ngồi ở quầy bế con cho T2, còn T2 cùng T6 và H1, H đi lên phòng Víp 5 trước, bình nước đựng ma túy vẫn để trong túi bóng treo ở xe mô tô. Lúc này, trong phòng Víp 5 có T2, T, H1, T6, B, H. T2 nói với T6 xuống lấy “nước vui” ma túy lên sử dụng, T6 đồng ý. T6 đi xuống quầy nói với Quỳnh A1 là lấy nước vui cho T2 thì Quỳnh A1 đứng dậy đưa con đi vệ sinh bên ngoài quán K2, T6 cũng đi theo. T6 nói với Quỳnh A1 là 01 gói “nước vui” chỉ dùng được 4-5 người thôi và nói tiếp “lấy chén cho mọi người uống, mỗi người nửa chén”, Quỳnh A1 đồng ý. Lúc này, T2 từ phòng Víp 5 đi xuống bế con, T6 đi lên phòng hát. Quỳnh A1 đi một mình ra xe mô tô lấy bình “nước vui” (ma túy pha loãng) và đi vào quầy lấy 01 chén sứ màu trắng ở trên mặt bàn uống nước mang lên phòng Víp 5 để cho mọi người sử dụng ma túy. Quỳnh A1 đổ hết bình nước đựng ma túy “nước vui” vào 01 cốc thuỷ tinh, loại cốc uống bia để lên bàn uống nước, rồi cầm cốc rót “nước vui” vào chén sứ để mọi người sử dụng. T2 nói với Quỳnh A1 mời T trước, nên Quỳnh A1 đưa chén “nước vui” cho T sử dụng trước, tiếp đến Q rót lần lượt từng chén đưa lần lượt cho B, H1, H, T6 sử dụng, còn T2 không sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma tuý thì tất cả đều hát karaoke. Khoảng 00 giờ 05 ngày 07/12/2024, anh Phạm Văn T4, cùng Dương Thị P vào phòng Víp 5 chơi. Anh T7 và T2 ngồi nói chuyện với nhau, còn chị P ngồi gần T nhưng không biết mọi người sử dụng ma túy. Thấy vậy, T có lấy một chén “nước vui” cho P sử dụng. Khoảng 05 phút sau thì anh T7 và P sang thuê phòng 107 của quán để hát Karaoke cùng nhau. Khoảng 10 phút sau, T2 bảo T mua thêm 02 “chỉ” ma túy Ketamine về để mọi người sử dụng tiếp thì T đồng ý. Sau đó, T2 bảo Quỳnh A1 mua 02 “chỉ” ma túy Ketamine để mọi người sử dụng, Quỳnh A đồng ý. Khoảng 00 giờ 17 phút ngày 07/12/2024, Quỳnh A1 đi ra ngoài hành lang, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12K lắp sim số 03727.297.857 gọi điện đến số điện thoại 0868.954.xxx của một người đàn ông tên H3 cũng làm nghề đưa nhân viên đi phục vụ quán hát, đặt mua 02 chỉ ma túy Ketamine và bảo mang đến phòng hát Víp 5 của quán K2, H3 đồng ý, rồi Quỳnh A1 lại vào phòng ngồi hát với mọi người. Khoảng 05 phút sau, H3 đi vào phòng V 5 đi đến chỗ Quỳnh A1 đưa cho Quỳnh A1 01 gói giấy ăn, bên trong có 02 túi nilon nhỏ, đều màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, đều chứa tinh thể màu trắng là ma tuý K1, Quỳnh A1 nói với H3: “lát em chuyển khoản cho” thì H3 đi ra khỏi quán (khi H3 đưa ma túy chỉ Quỳnh A1 biết). Sau khi mua được ma túy, Quỳnh A1 nói lại cho T thì T nói Quỳnh A1: “mai chị chuyển khoản cho nhé” (tức mai trả tiền mua ma túy), Quỳnh A1 đồng ý. Quỳnh A1 ngồi ở ghế giữa cuối phòng, cất giấu 01 gói ma túy vào ốp điện thoại di động để khi nào sử dụng hết thì bỏ ra sử dụng tiếp, đồng thời đổ ma túy trong túi còn lại ra tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng lấy trong túi quần. Tiếp đó, Quỳnh A1 dùng bật lửa hơ nóng tờ tiền 5.000 đồng đựng ma túy rồi gập đôi lại, dùng bật lửa di miết nhỏ ma tuý Ketamine để ở mặt bàn. Quỳnh A1 hỏi H biết quấn ống hút không thì H bảo không. Thấy vậy, T6 bảo Quỳnh A1 có tiền đưa cho T6 quấn làm ống hút ma túy. Quỳnh A1 lấy tờ tiền 10.000 đồng đưa cho T6 rồi T6 cầm tiền và lấy đầu lọc điều thuốc lá quấn thành ống hút (tẩu) để mọi người sử dụng ma túy. Quỳnh A1 bế con ra khỏi quán đưa về nhà ngủ, lúc này P1 đang phục vụ khách hát tại quán cũng đi vào phòng V. Quấn ống hút xong, T6 cầm tờ tiền đựng ma túy, dùng móng tay lấy ma túy đưa vào mũi hít rồi để xuống mặt bàn. T2 lấy ống tẩu và tờ tiền 5.000 đồng đựng ma túy tự sử dụng rồi đưa cho B sử dụng; B sử dụng xong, T2 cầm đưa cho H sử dụng rồi để xuống bàn. Tiếp đến T tự cầm lấy tẩu để hít ma túy rồi đưa cho P1 hít ma túy xong để xuống bàn, còn H1 tự lấy ma túy sử dụng. Khoảng 15 phút sau, H1, H xuống phòng Víp 1 phục vụ khách hát Karaoke, còn B bỏ đi khỏi quán, T6, P1 đi về ngủ. Sau đó thì Bùi Thị T3 là bạn của T vào phòng Víp 5 ngồi chơi. Thảo cầm tờ tiền chứa ma tuý Ketamine cùng tẩu đưa cho T3 sử dụng. T3 sử dụng ma túy xong lại để xuống mặt bàn. Khi T2, T và T3 ngồi hát Karaoke và tiếp tục sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ số ma túy còn lại chưa kịp sử dụng hết cùng vật chứng khác.
Khoảng hơn 02 giờ ngày 07/12/2024, Quỳnh A1 cho con ngủ xong, đi đến quán K2 để hát và sử dụng ma túy, thấy Công an đang kiểm tra quán nên đi đến cạnh quán K5 ở cạnh đó vứt túi ma túy còn lại rồi đi về nhà ngủ.
Ngày 07/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nông Quỳnh A1 chỉ vị trí vứt túi nilon chứa ma tuý Ketamie gần quán K6 và tiến hành truy tìm ma túy nhưng không thu giữ được vật chứng.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Quỳnh A1, T6, kết quả trong hai điện thoại có tài khoản zalo của Quỳnh A1 mang tên “Quỳnh Emma” và tài khoản zalo của Nguyễn Hồng T6 mang tên “Hồng Thương”, lịch sử tin nhắn đã bị xoá.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Bùi Thị T3, Nguyễn Hồng T6, Tòng Thị P1, Quỳnh A1 nhận dạng người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả đã nhận dạng ra Toản, T, T6, Quỳnh A1.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Nông Quỳnh A1, Nguyễn Hồng T6 thực nghiệm điều tra, kết quả: Nông Quỳnh A1 thực hiện được việc pha gói ma tuý “nước vui” vào bình nước như lời khai; Nguyễn Hồng T6 đã thực hiện được hành vi sử dụng tờ tiền 10.000 đồng và hai đầu tẩu thuốc lá cuốn thành 01 chiếc “tẩu” để sử dụng ma tuý.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố: Vũ Thị Thu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/12/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn T2, Nông Thị Quỳnh A1, Nguyễn Hồng T6; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, bị cáo Vũ Thị Thu T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan tuy nhiên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra thời gian bị tạm giam bị cáo đã cung cấp thông tin cho chồng bị cáo là anh Lê Phương N1 để giúp cơ quan Công an phát hiện và bắt giữ đối tượng Tàng trữ trái phép chất ma tuý vì vậy bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của bị cáo T tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T và xử phạt bị cáo 05 năm tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án của các cơ quan và người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Vũ Thị Thu T có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 45 phút ngày 06/12/2024 đến khoảng 02 giờ ngày 07/12/2024, tại phòng Víp 5 quán K2, ở tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); Nguyễn Văn T2, Nông Thị Quỳnh A1, Vũ Thị Thu T, Nguyễn Hồng T6 cùng có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho 06 người khác, trong đó có 03 người dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine gồm: Vũ Thái B, Tòng Thị P1, Bùi Thị T3, Dương Thị P, sinh ngày 17/12/2008 (dưới 18 tuổi); Tòng Thị H, sinh ngày 08/01/2007 (dưới 18 tuổi), Lò Thị H1, sinh ngày 24/02/2008 (dưới 18 tuổi). T2 là người khởi xướng, cùng T bảo người khác mua ma túy; P1 là người cung cấp ma túy Ketamine “nước vui”, hướng dẫn pha chế ma túy, làm dụng cụ sử dụng ma túy; Quỳnh A1 là người mua thêm ma túy Ketamine dạng cục bột màu trắng sau khi sử dụng hết ma túy “nước vui”, chế biến ma túy, cung cấp vật dụng làm dụng cụ sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng trái phép chất ma túy, T2, T, Quỳnh A1 nhiều lần cầm ma túy mời người khác sử dụng. Khoảng hơn 02 giờ ngày 07/12/2024, khi T6 đi về ngủ, Quỳnh A1 đưa con về ngủ chưa quay lại quán, còn T2, T đang tiếp tục ở phòng Víp 5 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lương Công an phát hiện và thu giữ 0,223 gam ma túy Ketamine còn lại chưa kịp sử dụng hết cùng vật chứng khác có liên quan. Do vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Thị Thu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Án sơ thẩm đã đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt 07 năm 03 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Trong thời gian bị cáo bị tạm giam, ngày 30/3/2025, khi anh Lê Phương N1 là chồng bị cáo đến thăm gặp, thông qua chồng bị cáo đã cung cấp thông tin về đối tượng Hoàng Minh Á thường xuyên có ma tuý trong người. Căn cứ vào thông tin do bị cáo cung cấp, lực lượng Công an đã phát hiện và bắt giữ đối tượng Hoàng Minh Á đồng thời khởi tố vụ án, khởi tố bị can để xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể trong vụ án nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- [4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị Thu T; sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị Thu T.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Thị Thu T 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/12/2024.
Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Thị Thu T 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hương Giang Nguyễn Trung Thông |
Nguyễn Thị Minh Thu |
Nơi nhận:
- - Vụ 1-TAND tối cao;
- - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- - TAND, VKSND khu vực 2- BN;
- - Phòng THADS khu vực 2- BN;
- - Cơ quan CSĐT (PC 04)
- - Phòng PC10 - CA tỉnh BN;
- - Trại tạm giam số 2- CA tỉnh BN;
- - Bị cáo;
- - Lưu VP.
Bản án số 125/2025/HSPT ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 125/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thu T - TCSDTPCMT
