|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2025/HS - ST
Ngày 29/05/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
2. Ông Dương Văn Xuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tháp – Kiểm sát viên.
Ngày 29/05/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 16/04/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 04 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1954; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1958; Vợ: Ngô Thị D, sinh năm 1991; Con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 31/12/2007, Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Ngày 20/8/2016, Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 24/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn B1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1975, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 3/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn B2, sinh năm 1954; Họ và tên mẹ: Đào Thị M, sinh năm: 1957; Vợ: Đào Thị V, sinh năm 1980; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/10/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Quang O; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1972, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 1/12; Họ và tên cha: Nguyễn Quang H (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1955; Vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1975; Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000;
Tiền án: Bản án số 156/2014/HSST ngày 19/9/2014 Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích);
Tiền sự: không
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/10/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Quang Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 5/12; Họ và tên cha: Nguyễn Quang B3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1943; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1982; Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2023;
Tiền án:
- + Bản án số 167/2009/HSPT ngày 13/7/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích).
- + Bản án số 147/2015/HSST ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 17 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích);
Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 05/3/2021, Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, mức phạt 2.500.000 đồng (đã nộp phạt);
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/10/2024 (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Bá T4, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chiều tối ngày 14/10/2024, Trịnh Bá T5 (sinh năm 1983; trú tại thôn X, xã K, huyện S, Hà Nội) rủ Nguyễn Văn T và Nguyễn Quang Đ đến nhà T5 để ăn uống và đánh bạc. Khoảng 19 giờ ngày 14/10/2024, T, Đ, Trần Văn L (sinh năm 1972; trú tại thôn B, xã Đ, huyện S, Hà Nội), Nguyễn Công H2 (sinh năm 1987; trú tại thôn X, xã K, huyện S, Hà Nội) đến nhà T5 ăn uống cùng một số đối tượng khác. Sau đó, Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Quang O cũng đến nhà T5 để tìm chỗ đánh bạc.
Khoảng 20 giờ 30 phút, Trịnh Bá T5 rủ Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O, Nguyễn Công H2 đánh bạc dưới hình thức chơi “Sâm”. T5 chuẩn bị bộ bài tú lơ khơ 52 quân để xuống dưới thảm ở phòng khách cho các đối tượng đánh bạc. Các đối tượng quy định mức chơi là 10.000 đồng/1 lá, nếu ai sâm thì mỗi người còn lại phải nộp cho người có bài sâm là 200.000 đồng, ai bị treo (tức là không đánh được lá bài nào) thì phải nộp cho người thắng là 150.000 đồng và người được S thì bỏ ra cho T5 50.000 đồng. Trước khi đánh bạc, Nguyễn Văn T có 8.000.000 đồng, Nguyễn Văn B1 có 6.500.000 đồng, Nguyễn Quang O có 1.300.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Quang Đ cầm bài chơi hộ Nguyễn Quang O 1 ván, Trần Văn L cầm bài chơi hộ Nguyễn Văn T khoảng 15 phút. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, Nguyễn Hữu H3 (sinh năm 1974, trú tại thôn X, xã K, huyện S, Hà Nội) cùng một số đối tượng đến nhà T5 để đánh bạc. Lúc này, T5 bảo mọi người chuyển sang đánh xóc đĩa. T5 chuẩn bị bát, đĩa và 04 quân vị được làm bằng tre một mặt màu đen, một mặt màu trắng làm công cụ đánh bạc. Khi bắt đầu chơi, các đối tượng cùng thống nhất mức đặt tiền mỗi ván chơi tối thiểu là 50.000 đồng, tối đa không hạn chế; cửa chẵn thắng khi kết quả cho ra 04 quân mặt trắng, 04 quân mặt đỏ hoặc 02 quân mặt trắng, 02 quân mặt đỏ; cửa lẻ thắng khi kết quả cho ra 01 quân mặt trắng, 03 quân mặt đỏ hoặc 03 quân mặt trắng, 01 quân mặt đỏ. T5 thu tiền hồ của mỗi người 100.000đ/1 giờ và làm hồ lỳ giam tiền thắng thua cho các đối tượng tham gia đánh bạc. Lúc đầu, B1 xóc cái cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Quang O, Nguyễn Công H2, Trần Văn L, Nguyễn Hữu H3 và một số đối tượng khác đặt cược tiền đánh bạc. Sau đó, T thay B1 xóc cái cho các đối tượng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn B1 vay của đối tượng tên Đ1 (sinh năm 1975, trú tại thôn X, xã K, huyện S, Hà Nội) số tiền 10.000.000 đồng để lấy tiền đánh bạc. Khoảng hơn 22 giờ ngày 14/10/2024, Trịnh Bá T4 (sinh năm 1982, trú tại thôn X, xã K, huyện S, Hà Nội) đến nhà T5 để đòi tiền T5 nhưng thấy có đông người đánh bạc ở trong nhà nên T4 đứng bên ngoài khu vực uống nước để chờ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an huyện S phát hiện, bắt giữ được Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O, Nguyễn Quang Đ, Trịnh Bá T4; còn Trịnh Bá T5, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu H3, Trần Văn L và các đối tượng khác bỏ chạy thoát.
* Vật chứng vụ án:
- - Tạm giữ trên chiếu: Số tiền 5.400.000 đồng, 02 thảm trải sàn, 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 lá), 01 bát sứ, 01 đĩa sứ.
- - Tạm giữ trên người các đối tượng tổng số tiền 38.945.000 đồng; trong đó, thu giữ của Nguyễn Văn T số tiền là 16.000.000 đồng, Nguyễn Văn B1 số tiền là 15.210.000 đồng, Nguyễn Quang O số tiền là 110.000 đồng; Trịnh Bá T4 số tiền là 7.625.000 đồng.
- - Tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu Gold.
- - Tạm giữ của Nguyễn Văn B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A02 màu xanh.
- - Tạm giữ của Nguyễn Quang Đ 01 điện thoại Oppo A74 màu xanh than.
Đối với Trịnh Bá T5, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu H3, Trần Văn L và các đối tượng khác bỏ chạy thoát: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trịnh Bá T5, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu H3, Trần Văn L về tội “Đánh bạc” và tiếp tục xác minh làm rõ các đối tượng khác. Tuy nhiên, Trịnh Bá T5, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu H3, Trần Văn L bỏ trốn. Ngày 24/3/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tách vụ án hình sự, tách hành vi “Đánh bạc” của bị can Trịnh Bá T5, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu H3, Trần Văn L để xử lý theo quy định.
Đối với Trịnh Bá T4, quá trình điều tra xác định: T4 không tham gia, giúp sức việc đánh bạc nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 15/04/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O và Nguyễn Quang Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tại phiên toà:
Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Quang O từ 9 đến 12 tháng.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ từ 9 đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 02 thảm trải sàn, 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 lá), 01 bát sứ, 01 đĩa sứ.
Tịch thu sung công số tiền 36.720.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu Gold thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T.
Trả lại 02 điện thoại di động cho bị cáo Nguyễn Văn B1 bị cáo Nguyễn Quang Đ; trả lại cho anh Trịnh Bá T4 số tiền 7.625.000 đồng.
* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, tại nhà của Trịnh Bá T5 ở thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O và Nguyễn Quang Đ đánh bạc bằng hình thức “Sâm” và “Xóc đĩa”. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện S phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 36.720.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Văn B1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Bị cáo Nguyễn Quang Đ có bố đẻ là ông Nguyễn Quang B3 là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vụ án ‘Đánh bạc’ mang tính chất ít nghiêm trọng, có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn.
Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1 đều có đủ các điều kiện của người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo theo quy định của pháp luật do vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội.
Các bị cáo Nguyễn Quang O và Nguyễn Quang Đ đều có nhân thân xấu cần phải xử phạt tù giam. Tuy nhiên các bị cáo đều là đồng phạm, phạm tội có mức độ: Bị cáo Nguyễn Quang O chỉ dùng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Quang Đ không mang tiền mà chỉ cầm hộ bài của bị cáo O một ván và bị thua số tiền là 20.000 đồng; hơn nữa cho đến nay các bị cáo đã bị tạm giam 7 tháng 14 ngày do đó chỉ cần tuyên phạt tù các bị cáo bằng với thời gian tạm giam.
Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Xử lý vật chứng:
Cần trả lại số tiền 7.625.000 đồng cho anh Trịnh Bá T4; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A02 màu xanh; trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang Đ 01 điện thoại Oppo A74 màu xanh than do các vật chứng trên đều không liên quan trong vụ án.
Đối với số tiền 36.720.000 đồng đồng thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu Gold thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T đều sử dụng và liên quan đến việc đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 thảm trải sàn, 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 lá), 01 bát sứ, 01 đĩa sứ cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O và Nguyễn Quang Đ phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về hình phạt:
2.1. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao:
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn B1 nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.
2.2. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang O 7 (bảy) tháng 14 (mười bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/10/2024.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Quang O nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.
2.3. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 07 (bảy) tháng 14 (mười bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/10/2024.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Quang Đ nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.
[3] Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện S, thành phố Hà Nội; Giao bị cáo Nguyễn Văn B1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội: Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của Bản án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- + Tịch tiêu hủy: 02 thảm trải sàn, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 bát sứ; 01 đĩa sứ.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 36.720.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu Gold, số IMEI 1: 352853110782865; số IMEI 2: 352853110940158.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A02 màu xanh, số IMEI 1: 356525686333283; số IMEI 2: 359001166333281.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang Đ 01 điện thoại Oppo A74 màu xanh than, số IMEI 1: 866686056855777; số IMEI 2: 866686056855769.
- + Trả lại cho anh Trịnh Bá T4 số tiền 7.625.000đ (bảy triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/04/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn; Ủy nhiệm chi chuyển khoản Kho bạc Nhà nước S1 ngày 19/05/2025).
- + Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Quang O và Nguyễn Quang Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trịnh Bá T4 có quyền kháng cáo về phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường |
Bản án số 125/2025/HS - ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc
- Số bản án: 125/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
