|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2025
Về việc ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Tuyết Dung
- Bà Đặng Thị Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1972.
- Địa chỉ: Cấp B (trước đây là tổ B, ấp B), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Đình H, sinh năm: 1969. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Cấp B (trước đây là tổ B, ấp B), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà và ông Lê Đình H tự nguyện sống chung từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 161, ngày 29/10/1999. Sau khi đăng ký kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được 22 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông H có tính gia trưởng, thường xuyên say sỉn, không quan tâm cùng bà chăm lo cuộc sống gia đình. Bà T cho rằng ông H có người phụ nữ bên ngoài, dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Đình H.
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lê Thanh T1, sinh ngày 29/12/2001 (đã trưởng thành) và cháu Lê Thanh P, sinh ngày 18/9/2009. Khi ly hôn, bà T yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T trình bày không có.
Đối với bị đơn ông Lê Đình H đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông H không có ý kiến, đồng thời vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị T có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin ly hôn với ông Lê Đình H, sinh năm: 1969, nơi cư trú: 376 ấp B (trước đây là Tổ 2, ấp B), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quan hệ tranh chấp này là tranh chấp ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:
Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:
Bà Lê Thị T tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn.
Ông Lê Đình H tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.
Ông H đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên vắng mặt không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm; bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1999, bà Lê Thị T và ông Lê Đình Hải đăng K kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 161, ngày 29/10/1999. Như vậy hôn nhân giữa bà T và ông H được pháp luật công nhận. Xét thấy: Khi đã là vợ chồng thì cả hai phải cùng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nhưng ông H không quan tâm đến bà T, không thể hiện trách nhiệm làm chồng và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông H để tham gia hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ bỏ mặc và không có thiện chí hay biện pháp gì nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng tỏ rằng mâu thuẫn chung vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Về quan hệ con chung: Bà T và ông H có 02 con chung là cháu Lê Thanh T1, sinh ngày 29/12/2001 (đã trưởng thành) và cháu Lê Thanh P, sinh ngày 18/9/2009. Khi ly hôn, bà T yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Thị T thể hiện bà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và lại theo nguyện vọng của cháu P mong muốn sống cùng với mẹ nên yêu cầu được nuôi con chung của bà T là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu P cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu xem xét giải quyết về tài sản chung; về nợ chung không có.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Lê Thị T là có căn cứ, lời đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận.
[4] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Do bà Lê Thị T là người nộp đơn xin ly hôn nên bà phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 71, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Đình H.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Thanh P, sinh ngày 18/9/2009 cho bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà Lê Thị T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về nợ chung và tài sản chung: Ghi nhận lời khai của bà Lê Thị T trình bày về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; về nợ chung không có nợ chung.
- Về án phí:
- Quyền kháng cáo:
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Ông Lê Đình H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035097 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Phúc |
Bản án số 125/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 125/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Lê Thị Tư ly hôn với ông Lê Đình Hải
