|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2025 V/v: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa liên bang Đ. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 17/11/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh N không có trách nhiệm với vợ con. Vợ chồng ly thân từ năm 2018, đến tháng 11/2018 anh N đi xuất khẩu lao động cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị D đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016. Khi ly hôn, chị D đồng ý giao con chung cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, bị đơn anh Nguyễn Văn N đang lao động tự do tại Đức, không có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương cũng như thông qua người thân của anh N nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của anh N. Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ1 trong ba ngày liên tiếp 18,19,20/4/2025 để thông báo cho anh Nguyễn Văn N có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, anh N không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Tại Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn C (bố đẻ của anh Nguyễn Văn N), ông C có nội dung trình bày: Việc vợ chồng anh N, chị D giải quyết việc ly hôn thì gia đình có biết. Thông qua trao đổi với anh N, anh N có ý kiến như sau: Anh N biết việc chị D đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Anh N cũng đồng ý ly hôn với chị D. Về con chung, vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016; anh N muốn được Tòa án giao con chung là cháu A cho anh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình anh N đang đi xuất khẩu lao động, anh N sẽ gửi tiền về nhờ tôi thay anh N chăm sóc cháu A cho đến khi anh N về Việt Nam; việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng anh N, chị D không có tài sản chung, nợ chung.
Ông C sẽ tự nguyện thay anh N thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo lại kịp thời nội dung các văn bản cho anh N được biết. Về con chung của anh N và chị D, từ trước đến nay, cháu Hà A vẫn sống cùng vợ chồng ông C. Ông C tự nguyện thay anh N chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh N và chị D là cháu A cho đến khi anh N về Việt Nam.
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Thị Hà A, cháu A có nội dung trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội vì từ trước tới nay cháu vẫn ở cùng bố và ông bà nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhân xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng Điều 51, 56, 57, 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị Quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D; xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016 cho anh Nguyễn Văn N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn ngày 17/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 270/QLXNC-Đ1 ngày 17/3/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 25/8/1989; số Hộ chiếu: B4866613; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 22/11/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn N đang lao động ở nước ngoài, vắng mặt không có lý do; qua xác minh, người thân của anh N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh N ở nước ngoài nên thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh N không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị D, anh N theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2015, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị D và anh N là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh N không có trách nhiệm với vợ con. Vợ chồng ly thân từ năm 2018, đến tháng 11/2018 anh N đi xuất khẩu lao động cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị D đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt các thông báo, quyết định và đăng tin thông báo theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Tòa án chỉ có thể ghi nhận ý kiến của anh N thông qua bố đẻ của anh N là ông Nguyễn Văn C. Thông qua lời trình bày của ông C, anh N cung cấp ý kiến thống nhất với những yêu cầu của chị D.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh N là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị D yêu cầu được ly hôn anh N là có căn cứ và phù hợp. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị D, cho chị D và anh N ly hôn.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016. Khi ly hôn, chị D đồng ý giao con chung cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Làm việc với Tòa án, cháu Nguyễn Thị Hà A trình bày muốn được ở với bố. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016 cho anh Nguyễn Văn N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Chị D không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D. Cho chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N ly hôn.
2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 09/7/2016 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Chị Nguyễn Thị D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 26/02/2025 ký bởi Công ty Cổ phần T).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Tất Thể |
Bùi Văn Hồng |
Hoàng Ngọc Tùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Bản án số 125/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 125/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
