|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 125/2025/HNGĐ – ST Ngày: 26 – 6 – 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Huỳnh Văn Nam
- 2. Bà Phan Hoàng Mai.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 300/2025/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 19/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2025/QÐST – HNGĐ ngày 12/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1962
Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm C, phường L (phường M cũ), tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963
Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm C, phường L (phường M cũ), tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Trần Hoàng T vắng mặt và có đơn đề nghị được vắng mặt; bà Nguyễn Thị D vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2025, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Hoàng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị D tự nguyện quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 04/4/1983. Ông và bà D chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Sau đó, đến đầu năm 2013 bà D tự ý bỏ ông và các con đi cho tới nay. Thời gian qua ông nhiều lần tìm kiếm bà D. Về gia đình của bà D để hỏi thăm nhưng cũng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà D.
- Về quan hệ con chung: ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị D có 05 con chung tên Trần Thị Hoàng O sinh năm 1985, Trần Thị Thanh L, sinh năm 1988; Trần Thị Diễm H sinh năm 1996, Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1997 và Trần Thị Mỹ N sinh ngày 07/12/2000. Hiện các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là bà D vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).
Về nội dung: Nhận thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà D đã không còn tồn tại từ nhiều năm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T. Về con chung, các con chung của ông T, bà D đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Do bà D không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa ông T, bà D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, căn cứ vào Phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 10/4/2025 thể hiện bà D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A, đường T, Khóm C, phường M. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định bà D có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Đồng thời, Tòa án cũng tiến hành thông báo triệu tập bà D và thông báo cho bà D biết về yêu cầu ly hôn của ông T trên phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà D tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà D.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị D tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 04/04/1983 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Ông T cho rằng, quá trình chung sống giữa ông và D phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp. Phía bà D được Tòa án nhiều lần tống đạt, niêm yết công khai và thông báo các văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, bà D vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của ông T, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.
[5] Xét thấy, qua lời trình bày của ông T cho thấy hôn nhân của ông bà đã không còn tồn tại từ lâu. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, mục đích hôn nhân của ông T, bà D không đạt được, các bên không có biện pháp hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông T được ly hôn bà D.
[6] Về con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 693 ngày 29/9/2003, bản sao Giấy khai sinh số 00024/2010 ngày 26/8/2010, bản sao Giấy khai sinh số 529 ngày 28/3/2025, bản photo sổ Hộ khẩu số 2933AÐ và lời trình bày của ông T, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định ông T, bà D có 05 con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tên Trần Thị Hoàng O sinh năm 1985, Trần Thị Thanh L sinh năm 1988, Trần Thị Diễm H sinh năm 1996, Trần Thị Mỹ P sinh năm 1997 và Trần Thị Mỹ N sinh năm 2000.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của bà D về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[8] Về án phí: Ông T được miễn nộp tạm ứng án phí do thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Hoàng T được ly hôn bà Nguyễn Thị D.
- [2] Về con chung: Ông, bà có 05 (năm) con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tên Trần Thị Hoàng O sinh năm 1985, Trần Thị Thanh L sinh năm 1988, Trần Thị Diễm H sinh năm 1996, Trần Thị Mỹ P sinh năm 1997 và Trần Thị Mỹ N sinh năm 2000.
- [3] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- [4] Về án phí: Ông T được miễn nộp tạm ứng án phí do thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- [5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 125/2025/HNGĐ – ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 125/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
