Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng và bà Mai Thị Toán.

- Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Bùi Q, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện P, thành phố H; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 15 tháng 4 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thanh T và anh Bùi Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã P), huyện P, thành phố H vào ngày 19/3/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã, xích mích. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân không thường xuyên liên lạc, cuộc sống ai tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Bùi Quý .

Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Nhật N, sinh ngày 03/9/2018. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Bùi Nhật N cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; nguyên đơn không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:

  • Bản sao trích lục kết hôn; bản sao CCCD của nguyên đơn; xác nhận thông tin về cư trú; bản phô tô CCCD của bị đơn; bản sao trích lục khai sinh của con.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Q về việc chị T xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh Q không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q đều vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 07/5/2025, chính quyền địa phương và gia đình đã xác định anh Bùi Q đăng ký thường trú tại thôn M, xã P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã P), huyện P, thành phố H; vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn; hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Về con chung có 01 người con như chị T trình bày.

Trong thời gian ly thân, anh Q về sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở thôn P, xã V, huyện P, thành phố H. Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, thành phố H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cử cán bộ phối hợp với gia đình anh Q để thực hiện việc tống đạt theo quy định của pháp luật.

Do không tiến hành hòa giải được và nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hoà giải và đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 10/6/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ban hành quyết định hoãn phiên tòa và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thanh T và anh Bùi Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã P), huyện P, thành phố H vào ngày 19/3/2018. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Bùi Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Q, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được, sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không thể tiến hành hòa giải do bị đơn vắng mặt; tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 10/6/2025, bị đơn tiếp tục vắng mặt; điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị Thanh T.

[2.2] Về việc nuôi con chung: Yêu cầu của nguyên đơn xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là cháu Bùi Nhật N, sinh ngày 03/9/2018. Hiện nay con chung đang được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời cháu N hiện còn nhỏ, đang trong độ tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp từ người mẹ nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị T về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị T trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thanh T được ly hôn anh Bùi Quý .

2. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 01 người con chung là cháu Bùi Nhật N, sinh ngày 03/9/2018 cho chị Đỗ Thị Thanh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Bùi Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Bùi Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Đỗ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002642 ngày 24/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố H;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - UBND xã Ph
  • (ĐKKH số 18, ngày 19/3/2018);
  • - Đương Sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 125/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị Thanh Tâm xin ly hôn anh Bùi Quý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger