|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2025/HN-ST |
|
|
Ngày: 27-5-2025 |
|
|
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Dứt
- Bà Trần Thị Kim Thoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 1997 (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số D, hẻm V, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: số A, ấp A, xã H, Chợ M, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T trình bày, bà và ông Nguyễn Thành N tự nguyện tìm hiểu và sống chung vào năm 2018, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng hay uống rượu, ăn chơi, không lo làm ăn, nên vợ chồng hay cãi nhau, ông N về nhà cha mẹ ruột sống. Gia đình có dàn xếp nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung năm 2021 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà T yêu cầu được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà T xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/9/2019, hiện đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Thành N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà T và triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng ông N vắng mặt không lý do, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thùy T vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Ông Nguyễn Thành N đã được tống đạt để tham gia phiên tòa, nhưng ông vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thùy T xin ly hôn ông Nguyễn Thành N.
Về con chung: Bà Trần Thị Thùy T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/9/2019, hiện đang sống với bà T. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]- Về hình thức: Bà Trần Thị Thùy T khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Thành N có nơi cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Nguyễn Thành N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông N vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành N là có căn cứ
[2]- Về nội dung: Bà T và ông N sống chung vào năm 2018, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng hay uống rượu, ăn chơi, không lo làm ăn, nên vợ chồng hay cãi nhau, ông N bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Gia đình có dàn xếp nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà T yêu cầu được ly hôn ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, bà T và ông N kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo vụ án xin ly hôn của bà T, nhưng ông N không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc bà T xin ly hôn ông N là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thùy T.
[2.1]- Về quan hệ con chung: Bà T xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/9/2019, hiện đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nuôi con phải được xem xét trên cơ sở điều kiện nuôi dưỡng và bảo đảm sự ổn định và không làm ảnh hưởng tâm lý đối với con chung, hiện nay cháu K đang sống ổn định với mẹ và bà T cũng có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu K. Do đó yêu cầu của bà T phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu này.
Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2]- Về quan hệ tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3]- Về nợ chung: Bà T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thùy T xin ly hôn ông Nguyễn Thành N.
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Thùy T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh 15/9/2019, hiện đang sống với bà T. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Ghi nhận bà T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà T, ông N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Trần Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0024180 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
- Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |
Bản án số 125/2025/HN-ST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 125/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
