TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2025/HC-ST
Ngày: 16 - 6 - 2025
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Vĩnh Kỳ.
Ông Đoàn Văn Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 89/2025/TLST-HC ngày 03/4/2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”
Theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Đinh Thị P, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu phố F, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Thị P: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: Khu Dân cư B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Công T1 -Giám đốc (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B: Ông Đào Thế H – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Văn B, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Bà Trần Nữ Tuyết S, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu phố E, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Bà Trần Thị B1, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1980, địa chỉ: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Ông Đinh Văn Q, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu phố F, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1926, địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Ông Đinh Công P1, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu phố F, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Ông Đinh Văn T, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
- Bà Võ Thị N, sinh năm 1953, địa chỉ: Khu phố F, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đinh Văn T2, ông Đinh Công P1, bà Võ Thị N: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Chi nhánh Văn phòng Đ.
Địa chỉ: số B đường H, Phường T, Thị xã L.
Người đại diện hợp pháp (người đại diện theo ủy quyền): Ông Đào Thế H – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
Tại phiên toà có mặt ông Đinh Văn T, ông Đào Thế H, các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người khởi kiện bà Đinh Thị P và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện - ông Đinh Văn T trình bày:
Bà Đinh Thị P có thửa đất số 519, tờ bản đồ số 26, diện tích 1505.3m², địa chỉ: thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 188507, do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 22/12/2023. Ngày 25/7/2024, theo yêu cầu, bà Đinh Thị P nhận được mảnh chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đ cấp: Thửa đất số 519 tách thành 10 thửa như sau:
Thửa đất số 628, diện tích 134.9m², trong đó có 62.5m² ONT và 72.4m² BHK.
Thửa đất số 629, diện tích 135.2m², trong đó có 62.5m² ONT và 72.7m² BHK.
Thửa đất số 630, diện tích 134.8m², trong đó có 62.5m² ONT và 72.3m² BHK.
Thửa đất số 631, diện tích 135.2m², trong đó có 62.5m² ONT và 72.7m² BHK.
Thửa đất số 632, diện tích 130.3m², trong đó có 60.0m² ONT và 70.3m² BHK.
Thửa đất số 633, diện tích 129.3m², trong đó có 72.0m² ONT và 57.3m² BHK.
Thửa đất số 634, diện tích 129.8m², trong đó có 72.0m² ONT và 57.8m² BHK.
Thửa đất số 635, diện tích 129.6m², trong đó có 72.0m² ONT và 57.6m² BHK.
Thửa đất số 636, diện tích 271.4m², trong đó có 60.0m² ONT và 211.4m² BHK.
Thửa đất số 637, diện tích 175.8m², trong đó có 84.0m² ONT và 91.8m² BHK.
Căn cứ mảnh chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đ cấp. Ngày 29/7/2024, bà P đã thực hiện việc tặng cho 09 người thân là: Ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đinh Văn T2, ông Đinh Công P1, bà Võ Thị N và ông Đinh Văn T.
Trong ngày 29/7/2024, bà Đinh Thị P có nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ với nội dung yêu cầu giải quyết: Đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được tặng cho theo quy định của pháp luật. Việc tặng cho của bà P nêu trên có thực hiện hợp đồng công chứng theo quy định của pháp luật và đã được Chi nhánh Văn phòng Đ đăng ký cập nhật chuyển nhượng ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trang 4 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 188507.
Tuy nhiên, ngày 17/02/2025, bà Đinh Thị P nhận được Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ với lý do: Việc tách thửa đất nêu trên đã được Phòng Quản lý Đô thị (do U) có ý kiến là sẽ làm manh mún thửa đất. Vì vậy, Chi nhánh Văn phòng Đ trả lại hồ sơ cho bà Đinh Thị P.
Bà Đinh Thị P cho rằng lý do từ chối không đúng quy định của pháp luật, cụ thể là:
- Đến thời điểm nộp hồ sơ, bà P đủ điều kiện được tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định; đảm bảo đúng trình tự thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm 2 khoản 1 Điều 2 Thông tư số 14/2023/TT-BTNMT ngày 16/10/2023 của Bộ T4; Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T4.
- Ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đinh Văn T2, ông Đinh Công P1, ông Đinh Văn T, bà Võ Thị N (người nhận tặng cho) không thuộc trường hợp không được nhận tặng cho được quy định tại Điều 191 Luật Đất đai năm 2013.
- Việc tách thửa để tặng cho một phần thửa đất đủ điều kiện được quy định tại Điều 4 và Điều 9 của Quy định kèm theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định điều kiện tách thửa, điều kiện hợp thửa và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Thửa đất tách thửa để tặng cho một phần thửa đất không nằm trong quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 được duyệt, thửa đất chưa có dự án đầu tư được duyệt. Việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận của Văn phòng Đ (do Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện) gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P
Do đó, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Huỷ Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật về việc giải quyết hồ sơ cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị P và những người được bà Đinh Thị P tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B do ông Đào Thế H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và có ý kiến tại Vănsố 1176/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 29/4/2025 như sau:
Ngày 29/7/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có nhận hồ sơ tặng cho một phần thửa đất của bà Đinh Thị P đối với thửa đất số 519, tờ bản đồ số 26, diện tích 1506.3 m² trong đó: đất ở tại nông thôn 670 m², đất trồng cây hàng năm khác 836.3 m² thuộc Giấy CNQSDĐ số DO 188507 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 22/12/2023; địa chỉ thửa đất tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Theo đó, bà Đinh Thị P tách thửa đất số 519, tờ bản đồ số 26 thành 10 thửa đất mới để tặng cho ông Đinh Văn B thửa đất số 628, diện tích 134.9 m²; bà Trần Nữ Tuyết S thửa đất số 629, diện tích 135.2 m²; bà Trần Thị B1 thửa đất số 630, diện tích 134.8 m²; bà Trần Thị Mỹ L thửa đất số 631, diện tích 135.2 m²; ông Đinh Văn Q thửa đất số 633, diện tích 129.3 m²; ông Đinh Văn T2 thửa đất số 634, diện tích 129.8 m²; ông Đinh Công P1 thửa đất số 635, diện tích 129.6 m²; ông Đinh Văn T thửa đất số 636, diện tích 271.4 m²; bà Võ Thị N thửa đất số 637, diện tích 175.8 m² và phần diện tích còn lại của bà Đinh Thị P thửa đất số 632, diện tích 130.3 m².
Ngày 10/9/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có phiếu chuyển số 3840/PC-CNVPĐKĐĐLG tham mưu cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B giải quyết hồ sơ nêu trên. Ngày 16/9/2024, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B có Công văn số 2904/VPĐKĐĐ-ĐKCG về việc có ý kiến đối với hồ sơ cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận của bà Đinh Thị P tặng cho ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đình Văn T3, ông Đinh Công P1, ông Đinh Văn T, bà Võ Thị N. Theo đó Văn phòng Đ Chi nhánh Văn phòng Đ phối hợp với địa phương rà soát, kiểm tra lại bản đồ địa chính đối với khu vực này để làm rõ việc bà Đinh Thị P đang tách thửa đất thành nhiều thửa đất nhỏ lẻ để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất đảm bảo không làm manh mún đất đai, sử dụng đất đúng với mục đích, không để hình thành điểm dân cư hoặc khu dân cư tự phát.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B Công văn số 2904/VPĐKĐĐ-ĐKCG, Chi nhánh Văn phòng Đ có Giấy mời số 292/CN.VPĐKĐĐLG để kiểm tra, rà soát theo yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh nhưng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L, phòng Quản lý Đô thị thị xã L vắng mặt. Chi nhánh Văn phòng Đ phối hợp với UBND xã T để kiểm tra, rà soát và ngày 11/10/2024 Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ La Gi có phiếu chuyển số 4020/PC-CNVPĐKĐĐLG báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh. Tuy nhiên, ngày 18/10/2024 Văn phòng Đ đề nghị Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ La Gi lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan (phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L, phòng Quản lý Đô thị thị xã L). Ngày 21/10/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có giấy mời (lần 2) số 336/CN.VPĐKĐĐLG để lấy ý kiến theo đề nghị của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh nhưng phòng T và phòng Quản lý Đô thị vắng mặt. Do đó, ngày 06/11/2024 Chi nhánh Văn phòng Đ có Công văn số 2503/CN.VPĐKĐĐLG đề nghị phòng T và phòng Q cho ý kiến về việc bà Đinh Thị P tách thành 10 thửa đất nhỏ lẻ để thực hiện việc tặng cho đất có đảm bảo không làm manh mún đất đai, sử dụng đất đúng mục đích, có hình thành điểm dân cư hoặc khu dân cư tự phát hay không.
Ngày 29/11/2024, phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L có Công văn số 3596/TNMT về việc liên quan đến tách thửa của bà Đinh Thị P tại xã T; theo đó phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L có ý kiến: Đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai La Gi căn cứ quy định tại Điều 220 Luật Đất đai năm 2024, Quyết định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 24/10/2024 của UBND tỉnh về Ban hành Quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận để thực hiện việc tách thửa đất đảm bảo cho đúng quy định, trong đó: Lưu ý việc tách thửa phải đảm bảo cơ sở hạ tầng theo quy định và lấy ý kiến phòng Quản lý Đô thị về cơ sở hạ tầng trước khi thực hiện tách thửa. Riêng, phòng Quản lý Đô thị thị xã L chưa có công văn phúc đáp. Vì vậy, ngày 03/12/2024 Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp tục có Công văn số 2683/CN.VPĐKĐĐLG về việc kiến nghị lấy ý kiến hồ sơ tặng cho một phân thửa đất của bà Đinh Thị P gửi phòng Quản lý Đô thị, tuy nhiên do phòng Quản lý Đô thị chậm có ý kiến phúc đáp nên ngày 13/12/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có Công văn số 2780/CN.VPĐKĐĐLG báo cáo sự việc và chuyển lại hồ sơ của bà Đinh Thị P đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B để xem xét giải quyết. Đến ngày 13/12/2024, phòng Quản lý đô thị có Công văn số 1155/QLĐT nêu ý kiến: “...Vị trí thửa đất số 519, tờ bản đồ số 26 theo Giấy chứng nhận QSD đất số DO 188507 được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh cấp ngày 22/12/2023 thuộc Lô đất số A5-1 được quy hoạch là đất Trung tâm văn hóa cấp vùng. Do đó, việc tách các thửa đất theo mảnh chỉnh lý do Văn phòng Đ lập ngày 25/7/2024 sẽ làm manh mún thửa đất và không phù hợp với quy hoạch đô thị đã được phê duyệt". Ngày 24/12/2024, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B có Công văn số 4408/VPĐKĐĐ-ĐKCG về việc có ý kiến đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đó Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B căn cứ điểm c khoản 3 Điều 16 Bảng quy định kèm theo Quyết định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh B "3. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm: c) Kiểm tra, xác nhận bằng văn bản điều kiện bảo đảm cấp nước, thoát nước và cấp điện khi có văn bản lấy ý kiến của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại các huyện, thị xã, thành phố” chỉ đạo Chi nhánh Văn phòng Đ lấy ý kiến của UBND thị xã L.Theo đề nghị của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp tục có Công văn số 2856/CN.VPĐKĐĐLG ngày 26/12/2024 về việc báo cáo và trình xin ý kiến hồ sơ tặng cho một phần thửa đất của bà Đinh Thị P gửi UBND thị xã L. Ngày 21/01/2025, phòng Quản lý Đô thị thị xã L (do UBND thị xã L ủy quyền) có Công văn số 62/QLĐT về việc có ý kiến về hệ thống hạ tầng thửa đất đề nghị tách thửa của bà Đinh Thị P, trong đó có ý kiến: Khẳng định lại việc tách thửa sẽ làm manh mún thửa đất mà phòng Quản lý Đô thị đã có ý kiến tại Công văn số 1155/QLĐT ngày 13/12/2024.
Từ những lý do nêu trên, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 16 tại Bảng quy định kèm theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B quy định: “Điều 16. Trách nhiệm thi hành 3. UBND các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm:
a) Chịu trách nhiệm chính về công tác quản lý đất đai tại địa phương, chỉ đạo các đơn vị (kể cả Chi nhánh Văn phòng Đ cấp huyện) thẩm định chặt chẽ các điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa, hợp thửa đất, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sau khi tách thửa. Không để hình thành điểm dân cư hoặc khu dân cư tự phát không đảm bảo cơ sở hạ tầng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hoặc không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”
Nhận thấy, việc tách thửa đất của bà Đinh Thị P nêu trên đã được phòng Quản lý Đô thị (do U) có ý kiến là sẽ làm manh mún thửa đất. Vì vậy, Chi nhánh Văn phòng Đ có Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 trả lại hồ sơ của bà Đinh Thị P. Việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 trả lại hồ sơ của bà Đinh Thị P là đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận không chấp nhận nội dung khởi kiện của bà Đinh Thị P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ do ông Đào Thế H trình bày: Thống nhất với Vănsố 1176/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 29/4/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đinh Văn T2, ông Đinh Công P1, bà Võ Thị N do ông Đinh Văn T đại diện theo ủy quyền, ông T đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị P.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không tiến hành đối thoại được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hộiđồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Đinh Thị P; Huỷ Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ; Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên tòa và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về quyền khởi kiện:
Ngày 29/7/2024, bà Đinh Thị P nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ với nội dung yêu cầu giải quyết: Đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được nhận tặng cho theo quy định của pháp luật. Ngày 06/02/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đinh Thị P nên bà P có quyền khởi kiện đối với Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
[3] Về đối tượng khởi kiện, người bị kiện, thẩm quyền giải quyết:
Ngày 24/02/2025, bà Đinh Thị P làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật về việc giải quyết hồ sơ cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị P và những người được bà Đinh Thị P tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Xét thấy Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ là Quyết định hành chính. Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị phụ thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh. Do đó, căn cứ Điều 84 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính, người bị kiện là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhànước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
[4] Về thời hiệu khởi kiện:
Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025. Đến ngày 24/02/2025, bà Đinh Thị P nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[5] Về nội dung Quyết định hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[5.1] Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền tặng cho khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
[5.2] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị P với ông Đinh Văn B, bà Trần Nữ Tuyết S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Mỹ L, ông Đinh Văn Q, ông Đinh Văn T2, ông Đinh Công P1, bà Võ Thị N và ông Đinh Văn T phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013.
Sau khi lập hợp đồng tặng cho, bà Đinh Thị P có nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ với nội dung yêu cầu giải quyết: Đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được tặng cho theo quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng Đ đã cập nhật thông tin về tặng cho quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 188507 do Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 22/3/2023.
[5.3] Trong quá trình giải quyết hồ sơ của bà Đinh Thị P, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đ phối hợp với địa phương rà soát, kiểm tra lại bản đồ địa chính đối với khu vực này để làm rõ việc bà Đinh Thị P đang tách thửa đất thành nhiều thửa đất nhỏ lẻ để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất đảm bảo không làm manh mún đất đai, sử dụng đất đúng với mục đích, không để hình thành điểm dân cư hoặc khu dân cư tự phát cụ thể là Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L và Phòng Quản lý đô thị thị xã L.
Ngày 29/11/2024, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã L có Công văn số 3596/TNMT với nội dung: Đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai La Gi căn cứ quy định tại Điều 220 Luật Đất đai năm 2024, Quyết định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 24/10/2024 của UBND tỉnh về Ban hành Quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận để thực hiện việc tách thửa đất đảm bảo cho đúng quy định, trong đó: Lưu ý việc tách thửa phải đảm bảo cơ sở hạ tầng theo quy định và lấy ý kiến phòng Quản lý Đô thị về cơ sở hạ tầng trước khi thực hiện tách thửa.
Ngày 13/12/2024, Phòng Quản lý đô thị thị xã L có Công văn số 1155/QLĐT nêu ý kiến: “...Vị trí thửa đất số 519, tờ bản đồ số 26 theo Giấy chứng nhận QSD đất số DO 188507 được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh cấp ngày 22/12/2023 thuộc Lô đất số A5-1 được quy hoạch là đất Trung tâm văn hóa cấp vùng. Do đó, việc tách các thửa đất theo mảnh chỉnh lý do Văn phòng Đ lập ngày 25/7/2024 sẽ làm manh mún thửa đất và không phù hợp với quy hoạch đô thị đã được phê duyệt”. Ngày 21/01/2025, Phòng Quản lý Đô thị thị xã L (do UBND thị xã L ủy quyền) có Công văn số 62/QLĐT về việc có ý kiến về hệ thống hạ tầng thửa đất đề nghị tách thửa của bà Đinh Thị P, trong đó có ý kiến: Khẳng định lại việc tách thửa sẽ làm manh mún thửa đất mà phòng Quản lý Đô thị đã có ý kiến tại Công văn số 1155/QLĐT ngày 13/12/2024.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cho rằng việc tách thửa đất của bà Đinh Thị P nêu trên đã được Phòng Quản lý Đô thị thị xã L (do UBND thị xã L ủy quyền) có ý kiến là sẽ làm manh mún thửa đất nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trả hồ sơ đăng ký biến động.
[5.4] Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 29/7/2024, bà Đinh Thị P nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ với nội dung yêu cầu giải quyết: Đăng ký biến động quyền sử dụng đất, đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được nhận tặng cho theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Luật đất đai năm 2024 quy định như sau:
“2. Hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì tiếp tục giải quyết thủ tục theo quy định của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện theo quy định của Luật này. Trường hợp người sử dụng đất đề nghị thực hiện theo quy định của Luật này thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Luật này”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định như sau:
“1. Trường hợp các hồ sơ hợp lệ đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất đã được tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp trước ngày 01/8/2024 thì tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND30/8/2021 của UBND tỉnh”.
Do đó, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Phòng Quản lý đô thị thị xã L viện dẫn quy định của Luật Đất đai 2024 (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024) và các văn bản pháp luật thi hành Luật Đất đai 2024 để có ý kiến giải quyết hồ sơ của bà Đinh Thị P là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Trong trường hợp này phải áp dụng Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật thi hành Luật Đất đai năm 2013, Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh B để giải quyết hồ sơ của bà Đinh Thị P như đã nêu trên.
Bà Đinh Thị P khi thực hiện thủ tục tách thửa đất diện tích 1506.3 m² trong đó: Đất ở tại nông thôn 670 m², đất trồng cây hàng năm khác 836.3 m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 188507 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 22/12/2023 đã đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 là:
- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất”.
Theo quy định tại Điều 4 và Điều 9 của Quy định kèm theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định điều kiện tách thửa, điều kiện hợp thửa và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, quy định như sau:
“Điều 4. Các điều kiện tách thửa đất
1. Người sử dụng đất được tách thửa đất khi đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng (sau đây gọi là Giấy chứng nhận).
b) Các thửa đất được hình thành từ việc tách thửa (sau khi trừ diện tích nằm trong hành lang an toàn đường bộ) không nhỏ hơn diện tích, kích thước tối thiểu tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 của Quy định này.
c) Các thửa đất được hình thành từ việc tách thửa phải tiếp giáp đường giao thông hiện hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Quy định này...”.
“Điều 9. Diện tích tối thiểu tách thửa đất ở có đất vườn, ao
1. Diện tích tối thiểu các thửa đất ở có đất vườn, ao hình thành từ việc tách thửa được xác định và thực hiện theo diện tích tối thiểu tách thửa đất ở tại nông thôn, đô thị quy định tại Điều 7 và Điều 8 Quy định này. Người sử dụng đất có trách nhiệm xác định vị trí diện tích đất ở đảm bảo diện tích tối thiểu, kích thước các cạnh của thửa đất ở nông thôn, đô thị; diện tích đất vườn, ao kèm theo không bị giới hạn bởi diện tích tối thiểu, kích thước các cạnh.
2. Trường hợp thửa đất ở có đất vườn, ao được Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ một phần diện tích đất vườn, ao (đất nông nghiệp) sang đất ở thì việc tách thửa được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này...”
Việc tách thửa của bà P để tặng cho một phần thửa đất đủ điều kiện được quy định tại Điều 143 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4 và Điều 9 và không thuộc trường hợp không được tách thửa đất tại Điều 6 theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định điều kiện tách thửa, điều kiện hợp thửa và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
Thửa đất tách thửa không nằm trong khu vực đã có thông báo thu hồi đất hoặc đã có quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, không nằm trong quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 được duyệt, thửa đất chưa có dự án đầu tư được duyệt.
Việc từ chối giải quyết hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 trả lại hồ sơ tách thửa là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở.
Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị P như ý kiến của ĐạiViện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về chi phí tố tụng: Người khởi kiện tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
[7] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Đinh Thị P được hoàn trả lại tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
- Điều 143, Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị P:
– Huỷ Phiếu từ chối giải quyết hồ sơ số 20/CN.VPĐKĐĐLG ngày 06/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
– Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc giải quyết hồ sơ cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: Người khởi kiện bà Đinh Thị P tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
3. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Bà Đinh Thị P không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho bà Đinh Thị P 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biênthu số 0000659 ngày 21/3/2025 của Cục Thihành án dân sự tỉnh B.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2025). Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Tiên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trương Vĩnh Kỳ Đoàn Văn Tám | Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 125/2025/HC-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 125/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị P khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
